AGIMLISIN®20

Thành phần: Công thức cho 1 viên nén:
Lisinopril . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . 20 mg
Quy cách đóng gói:
Vỉ 10 viên, hộp 3 vỉ.
Chỉ định:
Điều trị tăng huyết áp: Dùng đơn độc hoặc phối hợp với các thuốc điều trị tăng huyết áp khác như thuốc lợi tiểu thiazid, thuốc chẹn alpha hoặc chẹn kênh calci.
Điều trị suy tim: Dùng kết hợp lisinopril với các glycosid tim và các thuốc lợi tiểu để điều trị suy tim sung huyết cho người bệnh đã dùng glycosid tim hoặc thuốc lợi tiểu đơn thuần mà không đỡ.
Nhồi máu cơ tim cấp có huyết động ổn định: Điều trị ngắn hạn 6 tuần. Dùng phối hợp lisinopril với các thuốc làm tan huyết khối, aspirin, và/hoặc các thuốc chẹn beta để cải thiện thời gian sống ở người bệnh nhồi máu cơ tim cấp có huyết động ổn định. Nên dùng lisinopril ngay trong vòng 24 giờ sau cơn nhồi máu cơ tim xảy ra.
Điều trị bệnh thận ở bệnh nhân tăng huyết áp có đái tháo đường typ 2 và biến chứng thận sớm.

Danh mục:

Thông tin bổ sung

Liều dùng - Cách dùng

Liều dùng:
Tăng huyết áp:
Agimlisin 20 có thể dùng riêng lẻ hoặc kết hợp với các thuốc trị tăng huyết áp khác.
Liều khởi đầu:
Ở bệnh nhân tăng huyết áp liều khởi đầu được khuyến cáo là 10 mg. Bệnh nhân có hệ renin-angiotensin-aldosteron hoạt hóa mạnh (đặc biệt, tăng huyết áp mạch thận, giảm muối và/hoặc giảm thể tích, mất bù tim, tăng huyết áp nghiêm trọng) có thể bị hạ huyết áp quá mức sau khi dùng liều khởi đầu. Nên dùng liều khởi đầu 2, 5-5 mg ở những bệnh nhân này và bắt đầu điều trị phải có sự giám sát của bác sỹ. Cần phải dùng liều khởi đầu thấp hơn khi có suy thận.
Liều duy trì:
Liều duy trì thông thường có hiệu quả là 20 mg, uống 1 lần duy nhất mỗi ngày. Nói chung, nếu hiệu quả điều trị mong muốn không thể đạt được sau 2 đến 4 tuần ở một mức liều nào đó, có thể tăng liều thêm. Liều tối đa được sử dụng trong các thử nghiệm lâm sàng dài hạn có đối chứng là 80 mg ngày.
Bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu:
Hạ huyết áp triệu chứng có thể xảy ra sau khi bắt đầu điều trị với lisinopril. Điều này dễ xảy ra hơn ở những bệnh nhân hiện đang điều trị bằng thuốc lợi tiểu. Do đó nên thận trọng, vì những bệnh nhân này có thể đang thiếu nước và/hoặc muối. Nếu có thể, cần ngừng thuốc lợi tiểu 2 đến 3 ngày trước khi bắt đầu điều trị với lisinopril. Ở những bệnh nhân cao huyết áp mà không thể ngừng thuốc lợi tiểu, nên dùng lisinopril với liều khởi đầu 5 mg. Nên theo dõi chức năng thận và nồng độ kali huyết thanh. Liều dùng tiếp theo của lisinopril nên điều chỉnh theo đáp ứng của huyết áp. Nếu cần, điều trị với thuốc lợi tiểu có thể được tiếp tục.
Điều chỉnh liều sử dụng ở bệnh nhân suy thận:
Liều sử dụng ở bệnh nhân suy thận phải được dựa trên độ thanh thải creatinin như mô tả dưới đây:
10 ml/phút: liều khởi đầu 2, 5 mg/ngày*
10-30 ml/phút: liều khởi đầu 2, 5-5 mg/ngày
31-80 ml/phút: liều khởi đầu 5-10 mg/ngày
* Liều sử dụng và/hoặc số lần dùng thuốc nên được điều chỉnh theo đáp ứng về huyết áp.
Liều lượng có thể được chuẩn độ tăng dần cho đến khi huyết áp được kiểm soát hoặc tới liều tối đa 40 mg/ngày.
Sử dụng trên trẻ em bị bệnh cao huyết áp từ 6-16 tuổi:
Liều khởi đầu khuyến cáo là 2, 5 mg một lần mỗi ngày ở bệnh nhân có cân nặng từ 20 kg đến < 50 kg, và 5 mg một lần mỗi ngày ở bệnh nhân ≥ 50 kg. Liều dùng nên được điều chỉnh theo mỗi bệnh nhân đến tối đa 20 mg/ngày ở bệnh nhân có cân nặng từ 20 đến < 50 kg, và không quá 40 mg/ngày ở bệnh nhân ≥ 50 kg. Liều trên 0, 61 mg/kg (hoặc vượt quá 40 mg/ngày) chưa được nghiên cứu ở trẻ em.
Ở trẻ em suy giảm chức năng thận, nên xem xét liều khởi đầu thấp hơn hoặc xem xét tăng khoảng cách phân liều.
Suy tim:
Ở bệnh nhân suy tim có triệu chứng, lisinopril nên được dùng như một trị liệu hỗ trợ cho thuốc lợi tiểu và khi thích hợp với digitalis hoặc thuốc chẹn beta. Lisinopril có thể được sử dụng với liều khởi đầu 2, 5 mg, 1 lần/ngày và nên uống với sự theo dõi của bác sỹ để xác định tác động lần đầu của thuốc lên huyết áp. Nên tăng liều lisinopril:
Từng mức không quá 10 mg.
Khoảng cách điều chỉnh liều không ít hơn 2 tuần.
Liều tối đa bệnh nhân có thể dung nạp lên đến 35 mg, 1 lần/ngày.
Việc điều chỉnh liều lượng phải dựa trên đáp ứng lâm sàng của từng bệnh nhân.
Ở bệnh nhân có nguy cơ cao hạ huyết áp triệu chứng, ví dụ bệnh nhân thiếu muối có hay không có giảm natri máu, bệnh nhân giảm thể tích tuần hoàn hoặc bệnh nhân đang được điều trị bằng thuốc lợi tiểu mạnh, các rối loạn này phải được điều chỉnh, nếu được, trước khi điều trị với lisinopril nên theo dõi chức năng thận và kali huyết thanh. Nhồi máu cơ tim cấp:
Nếu thích hợp, bệnh nhân nên được điều trị bằng các thuốc điều trị chuẩn được khuyến cáo như thuốc tan huyết khối, aspirin và thuốc chẹn beta. Có thể dùng glyceryl trinitrat đường tĩnh mạch hoặc đường qua da cùng lúc với uống lisinopril.
Liều khởi đầu (3 ngày đầu tiên sau cơn nhồi máu cơ tim):
Điều trị bằng lisinopril có thể bắt đầu trong vòng 24 giờ từ khi khởi phát các triệu chứng. Việc điều trị không nên bắt đầu nếu huyết áp tâm thu thấp hơn 100 mmHg. Liều lisinopril đầu tiên là 5 mg qua đường uống, tiếp theo là 5 mg sau 24 giờ, 10 mg sau 48 giờ và 10 mg một lần/ngày. Bệnh nhân có huyết áp tâm thu thấp (≤ 120 mmHg) khi bắt đầu điều trị hoặc trong vòng 3 ngày đầu tiên sau cơn nhồi máu cơ tim nên dùng liều thấp hơn 2, 5 mg đường uống.
Trong trường hợp bệnh nhân suy thận (độ thanh thải creatinin < 80 ml/phút), liều khởi đầu lisinopril nên được điều chỉnh tùy theo độ thanh thải creatinin của bệnh nhân.
Liều duy trì:
Liều duy trì là 10 mg, 1 lần/ngày. Nếu hạ huyết áp xảy ra (huyết áp tâm thu ≤ 100 mmHg), liều duy trì hằng ngày 5 mg nên được giảm tạm thời xuống còn 2, 5 mg nếu cần thiết. Nếu hạ huyết áp kéo dài xảy ra (huyết áp tâm thu thấp hơn 90 mmHg kéo dài lâu hơn một giờ), nên ngưng dùng thuốc lisinopril.
Việc điều trị nên được tiếp tục trong 6 tuần lễ và sau đó bệnh nhân nên được đánh giá lại. Bệnh nhân có các triệu chứng suy tim nên tiếp tục dùng lisinopril.
Biến chứng trên thận của bệnh đái tháo đường:
Ở những bệnh nhân tăng huyết áp có bệnh đái tháo đường týp 2 và bắt đầu bệnh thận, dùng liều này 10 mg lisinopril một lần mỗi ngày và có thể tăng lên 20 mg mỗi ngày một lần nếu cần thiết để đạt được huyết áp tâm trương tư thế ngồi dưới 90 mmHg.
Trong trường hợp suy thận (độ thanh thải creatinin < 80 ml/phút), liều lisinopril ban đầu nên được điều chỉnh theo độ thanh thải creatinin của bệnh nhân.
Sử dụng thuốc ở trẻ em:
Kinh nghiệm về hiệu quả và an toàn ở trẻ bị tăng huyết áp > 6 tuổi còn hạn chế, nhưng không có kinh nghiệm trong các chỉ định khác. Không nên dùng lisinopril cho trẻ em ở những chỉ định khác ngoài chứng tăng huyết áp.
Không nên dùng lisinopril ở trẻ em dưới 6 tuổi, hoặc ở trẻ bị suy thận nặng (GFR < 30 ml/phút/1, 73m2).
Sử dụng thuốc ở người cao tuổi:
Trong các nghiên cứu lâm sàng, không có sự thay đổi nào liên quan đến tuổi tác về hiệu quả hoặc tính an toàn của thuốc. Tuy nhiên, khi tuổi cao kèm theo suy giảm chức năng thận, cần phải sử dụng các hướng dẫn trong Bảng 1 để xác định liều khởi đầu của thuốc lisinopril. Sau đó, liều lượng nên được điều chỉnh tùy theo đáp ứng huyết áp. Sử dụng trên bệnh nhân ghép thận:
Chưa có kinh nghiệm về việc dùng lisinopril trên bệnh nhân mới ghép thận. Vì thế, không khuyến cáo dùng lisinopril trên các bệnh nhân này.
Cách dùng:
Agimlisin 20 (lisinopril) được dùng theo đường uống, dùng 1 lần mỗi ngày. Cũng như các thuốc khác dùng một lần duy nhất trong ngày, Agimlisin 20 nên được uống ở cùng thời điểm trong ngày. Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu của viên nén Agimlisin 20.
Liều lượng tùy thuộc theo tình trạng và đáp ứng huyết áp của từng cá nhân.

Chống chỉ định

Người bệnh quá mẫn với lisinopril, với thuốc ức chế men chuyển hoặc với bất cứ thành phần nào của thuốc.
Người bệnh có tiền sử phù mạch liên quan đến điều trị bằng các thuốc ức chế men chuyển, phù mạch di truyền hoặc vô căn.
Không dùng đồng thời lisinopril với các thuốc có chứa aliskiren trên những bệnh nhân đái tháo đường hoặc suy thận (mức lọc cầu thận < 60 ml/phút/1, 73m2).
Bệnh nhân chạy thận nhân tạo với màng siêu lọc cao (high flux membrane) polyacrylonitrile metalylsulfonate do nguy cơ xuất hiện phản ứng phản vệ.
Phụ nữ có thai.

Cảnh báo và thận trọng

Hạ huyết áp triệu chứng:
Hạ huyết áp triệu chứng rất hiếm gặp ở bệnh nhân tăng huyết áp không có biến chứng. Ở bệnh nhân tăng huyết áp dùng lisinopril, hạ huyết áp có khả năng xảy ra hơn nếu bệnh nhân bị giảm thể tích tuần hoàn, ví dụ do thuốc lợi tiểu, chế độ ăn hạn chế muối, thẩm phân, tiêu chảy hoặc nôn mửa hoặc tăng huyết áp nặng phụ thuộc renin (xem phần Tương tác và Tác dụng ngoại ý). Ở bệnh nhân suy tim, có hay không có suy thận kèm theo, hạ huyết áp có triệu chứng cũng đã được ghi nhận. Điều này có khả năng xảy ra nhất ở bệnh nhân suy tim nặng, phản ánh qua việc dùng liều cao thuốc lợi tiểu quai, giảm natri máu hoặc tổn thương chức năng thận. Ở những bệnh nhân có nguy cơ cao bị tụt huyết áp triệu chứng, việc khởi đầu điều trị và điều chỉnh liều cần được giám sát chặt chẽ. Những biện pháp tương tự cũng được áp dụng ở bệnh nhân có bệnh tim thiếu máu cục bộ hoặc bệnh mạch máu não, mà ở những bệnh nhân này tụt huyết áp quá mức có thể dẫn tới nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não.
Nếu hạ huyết áp xuất hiện, nên đặt bệnh nhân nằm ngửa, và nếu cần thiết, nên được truyền tĩnh mạch dung dịch muối sinh lý. Đáp ứng hạ áp thoáng qua không phải là chống chỉ định đối với những liều tiếp theo, những liều thuốc này có thể được sử dụng không có trở ngại khi huyết áp đã được nâng lên sau khi bù dịch.
Ở một số bệnh nhân suy tim có huyết áp bình thường hoặc thấp, huyết áp có thể hạ thấp hơn nữa khi dùng lisinopril. Hiệu quả này được dự đoán và thường không phải là lý do để ngưng điều trị. Nếu hạ huyết áp có triệu chứng, có thể cần giảm liều hoặc ngưng dùng thuốc lisinopril.
Hạ huyết áp trong nhồi máu cơ tim cấp:
Không được khởi đầu điều trị với lisinopril cho bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp có nguy cơ bị rối loạn huyết động học trầm trọng sau khi điều trị với thuốc giãn mạch. Đây là những bệnh nhân có huyết áp tâm thu ≤ 100 mmHg hoặc người bị sốc tim. Trong vòng ba ngày đầu tiên sau nhồi máu cơ tim, nên giảm liều nếu huyết áp tâm thu ≤ 120 mmHg. Cần giảm liều duy trì xuống 5mg hoặc tạm thời xuống 2, 5mg nếu huyết áp tâm thu ≤ 100 mmHg. Nếu hạ huyết áp kéo dài (huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg kéo dài hơn 1 giờ) phải ngưng dùng lisinopril.
Bệnh nhân mắc bệnh hẹp động mạch chủ và van hai lá/bệnh cơ tim phì đại:
Giống như các thuốc ức chế men chuyển khác, nên thận trọng khi dùng lisinopril cho bệnh nhân hẹp van hai lá và nghẽn dòng máu ra khỏi tâm thất trái như là hẹp động mạch chủ hoặc bệnh lý cơ tim phì đại.
Suy giảm chức năng thận:
Trong trường hợp suy thận (độ thanh thải creatinin < 80 ml/phút), liều khởi đầu lisinopril nên được điều chỉnh theo độ thanh thải creatinin của bệnh nhân (xem Bảng 1 phần Liều lượng và Cách dùng) và chức năng đáp ứng của bệnh nhân với điều trị. Theo dõi thường quy lượng kali và creatinin là một phần của việc thăm khám y khoa thông thường cho các bệnh nhân này.
Ở bệnh nhân suy tim, hạ huyết áp sau khi bắt đầu điều trị với chất ức chế ACE có thể dẫn đến một số suy giảm chức năng thận nặng thêm. Suy thận cấp, thường là có thể hồi phục, đã được ghi nhận trong trường hợp này.
Ở một số bệnh nhân hẹp động mạch thận 2 bên hoặc hẹp động mạch thận của thận đơn độc, đã được điều trị với thuốc ức chế men chuyển, sự gia tăng urê huyết và creatinin huyết thanh, thường sẽ hồi phục khi ngưng điều trị đã được nhận thấy. Điều này đặc biệt có thể xảy ra ở bệnh nhân suy thận.
Nếu tăng huyết áp do bệnh lý mạch máu thận cũng hiện diện thì làm tăng nguy cơ hạ huyết áp nặng và suy thận. Ở những bệnh nhân này, điều trị nên bắt đầu với liều thấp dưới sự giám sát chặt chẽ và điều chỉnh liều lượng cẩn thận. Vì việc điều trị với thuốc lợi tiểu có thể là một yếu tố góp phần gây ra tình trạng nói trên, nên ngưng dùng những thuốc này và theo dõi chức năng thận trong những tuần đầu tiên điều trị với lisinopril.
Một số bệnh nhân tăng huyết áp mà không có bệnh lý mạch máu thận rõ rệt trước đó có hiện tượng tăng ure huyết và creatinin huyết thanh, thường là nhẹ và thoáng qua, đặc biệt khi lisinopril được dùng đồng thời với thuốc lợi tiểu. Điều này thường có khả năng xảy ra hơn ở bệnh nhân suy thận trước đó. Có thể cần giảm liều và/hoặc ngưng thuốc lợi tiểu và/hoặc lisinopril.
Trong nhồi máu cơ tim cấp, không nên điều trị khởi đầu với lisinopril ở bệnh nhân có biểu hiện rối loạn chức năng thận, được xác định khi nồng độ creatinin huyết thanh vượt quá 177 micromol/lít và/hoặc protein niệu vượt quá 500 mg/24 giờ. Nếu rối loạn chức năng thận phát triển trong giai đoạn điều trị với lisinopril (nồng độ creatinin huyết thanh vượt quá 265 micromol/lít hay gấp đôi so với các trị số trước khi điều trị) thì bác sỹ cần xem xét ngưng dùng lisinopril.
Quá mẫn/phù mạch:
Phù mạch ở mặt, tay chân, môi, lưỡi, thanh môn và/hoặc thanh quản hiếm khi được báo cáo ở bệnh nhân được điều trị với thuốc ức chế men chuyển, kể cả lisinopril. Triệu chứng này có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào trong khi điều trị. Trong trường hợp này, cần ngưng dùng lisinopril ngay lập tức và tiến hành điều trị thích hợp và theo dõi để đảm bảo rằng các triệu chứng được giải quyết hoàn toàn trước khi bệnh nhân xuất viện. Ngay cả trong trường hợp đó sưng phù chỉ ở lưỡi, không có suy hô hấp, bệnh nhân cần được quan sát lâu dài vì việc điều trị bằng thuốc kháng histamin và corticosteroid có thể không đủ.
Trong vài trường hợp rất hiếm đã có báo cáo các trường hợp tử vong do phù mạch kết hợp với phù thanh quản hoặc phù lưỡi. Bệnh nhân phù ở lưỡi, thanh môn hoặc thanh quản có thể bị tắc nghẽn đường hô hấp, đặc biệt ở những người có tiền sử phẫu thuật đường hô hấp. Ở những trường hợp này, cần điều trị cấp cứu ngay. Điều trị này có thể cho dùng adrenalin và/hoặc duy trì thông thoáng đường hô hấp. Bệnh nhân cần được theo dõi y tế chặt chẽ cho đến khi triệu chứng được giải quyết hoàn toàn và ổn định.
Thuốc ức chế men chuyển gây phù mạch ở người da đen với tỷ lệ cao hơn ở người có màu da khác.
Những bệnh nhân có tiền sử phù mạch không do sử dụng thuốc ức chế men chuyển có thể có nguy cơ cao bị phù mạch khi dùng thuốc ức chế men chuyển.
Phản ứng dạng phản vệ ở bệnh nhân thẩm phân máu:
Các phản ứng dạng phản vệ đã được báo cáo ở bệnh nhân thẩm phân máu với màng siêu lọc cao (ví dụ AN 69) và điều trị đồng thời với 1 thuốc ức chế men chuyển. Ở những bệnh nhân này cần xem xét việc sử dụng một loại màng thẩm phân khác hoặc nhóm thuốc điều trị tăng huyết áp khác.
Phản ứng dạng phản vệ khi ly trích lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL):
Ở vài trường hợp hiếm, bệnh nhân đang dùng thuốc ức chế men chuyển trong khi ly trích lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL) bằng dextran sulphat đã có phản ứng dạng phản vệ đe dọa đến tính mạng. Các phản ứng này được tránh bằng cách tạm thời không dùng thuốc ức chế men chuyển trước mỗi lần ly trích.
Giải mẫn cảm:
Bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyển trong quá trình điều trị giải mẫn cảm (ví dụ nọc độc loài hymenoptera) đã kéo dài các phản ứng dạng phản vệ. Cũng ở những bệnh nhân này, các phản ứng này đã không xảy ra khi tạm ngưng thuốc ức chế men chuyển nhưng lại xuất hiện khi vô tình tái sử dụng thuốc.
Suy gan:
Ở một vài trường hợp rất hiếm, thuốc ức chế men chuyển có liên quan đến hội chứng khởi đầu là vàng da ứ mật hoặc viêm gan và tiến triển thành hoại tử bạo phát và (đôi khi) gây tử vong. Cơ chế của hội chứng này chưa biết rõ. Bệnh nhân dùng lisinopril có xuất hiện triệu chứng vàng da hoặc tăng men gan rõ rệt nên ngưng dùng thuốc và được tiếp tục chăm sóc y tế thích hợp.
Giảm bạch cầu trung tính/Mất bạch cầu hạt:
Giảm bạch cầu trung tính/mất bạch cầu hạt, giảm lượng tiểu cầu và thiếu máu đã được báo cáo ở bệnh nhân dùng thuốc ức chế men chuyển. Hiếm khi xảy ra giảm bạch cầu trung tính ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường và không có các yếu tố biến chứng. Giảm bạch cầu trung tính và mất bạch cầu hạt có thể hồi phục sau khi ngưng dùng thuốc ức chế men chuyển. Nên dùng lisinopril một cách rất thận trọng ở bệnh nhân có bệnh mạch máu tạo keo, đang điều trị ức chế miễn dịch, đang dùng allopurinol hoặc procainamid, hoặc có sự kết hợp của các yếu tố biến chứng này, đặc biệt nếu có suy giảm chức năng thận trước đó. Một số trong các bệnh nhân này bị nhiễm khuẩn nghiêm trọng, mà trong vài trường hợp không đáp ứng với trị liệu kháng sinh tích cực. Nếu lisinopril được dùng ở các bệnh nhân này, nên theo dõi định kỳ số lượng bạch cầu và phải yêu cầu bệnh nhân báo cáo ngay nếu có bất cứ dấu hiệu nhiễm khuẩn nào.
Chẹn kép hệ renin-angiotensin-aldosteron (RAAS):
Có bằng chứng cho thấy việc sử dụng đồng thời các thuốc ức chế ACE, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II hoặc aliskiren làm tăng nguy cơ hạ huyết áp, tăng kali máu và giảm chức năng thận (bao gồm suy thận cấp). Vì thế, chẹn kép RAAS thông qua việc dùng kết hợp các thuốc ức chế ACE, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II hoặc aliskiren không được khuyến cáo.
Nếu liệu pháp điều trị kép được xem là thật sự cần thiết thì điều này chỉ xảy ra dưới sự giám sát của chuyên gia và phải theo dõi chặt chẽ thường xuyên chức năng thận, các chất điện giải và huyết áp.
Không nên dùng cùng lúc thuốc ức chế ACE và thuốc chẹn thụ thể angiotensin II trên bệnh nhân bị bệnh thận do tiểu đường.
Chủng tộc:
Thuốc ức chế men chuyển gây phù mạch ở người da đen với tỉ lệ cao hơn là ở người có màu da khác.
Cũng như các thuốc ức chế men chuyển khác, lisinopril có thể ít có tác động hạ huyết áp trên bệnh nhân da đen so với trên các nhóm bệnh nhân có màu da khác, có thể là do trạng thái renin thấp chiếm tỷ lệ cao hơn ở nhóm bệnh nhân da đen tăng huyết áp.
Ho:
Đã có báo cáo về triệu chứng ho khi sử dụng thuốc ức chế men chuyển. Điển hình là ho khan, dai dẳng và tự hết khi ngưng thuốc. Ho do thuốc ức chế men chuyển phải được xem xét như phần của chẩn đoán phân biệt nguyên nhân gây ho.
Phẫu thuật/gây mê:
Ở bệnh nhân đại phẫu hoặc trong khi gây mê bằng các thuốc làm hạ huyết áp, lisinopril có thể ức chế sự tạo thành angiotensin II thứ phát sau sự phóng thích renin bù trừ. Nếu hạ huyết áp xảy ra và được xem là do cơ chế này thì có thể điều chỉnh bằng cách làm tăng thể tích nội mạch.
Tăng kali máu:
Tăng nồng độ kali trong huyết thanh ở một số bệnh nhân điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển đã được ghi nhận, kể cả lisinopril. Bệnh nhân có nguy cơ tăng kali huyết gồm người suy thận, đái tháo đường, hoặc đang dùng thuốc lợi tiểu giữ kali (ví dụ: Spironolacton, triamteren hoặc amilorid), các chất bổ sung kali hoặc các chất thay thế muối chứa kali, hoặc các bệnh nhân đang dùng các thuốc khác có thể làm tăng nồng độ kali huyết thanh (ví dụ: Heparin, cotrimoxazol). Nếu thấy rằng cần thiết dùng đồng thời với các thuốc nói trên, nên theo dõi thường xuyên nồng độ kali huyết thanh.
Bệnh nhân đái tháo đường:
Đối với bệnh nhân đái tháo đường điều trị với thuốc uống trị đái tháo đường hoặc insulin, mức đường huyết trong tháng đầu điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển phải được theo dõi chặt chẽ.
Lithi:
Nói chung kết hợp lithi với lisinopril không được khuyến cáo.
Thời kỳ có thai:
Không nên bắt đầu dùng các thuốc ức chế men chuyển trong thời kỳ mang thai. Trừ khi tiếp tục điều trị với thuốc ức chế men chuyển được xem là cần thiết, bệnh nhân có kế hoạch mang thai nên được đổi sang chế độ điều trị tăng huyết áp thay thế mà dữ liệu sử dụng an toàn trong thời kỳ mang thai đã được thiết lập. Khi phát hiện có thai, điều trị bằng các thuốc ức chế ACE phải ngưng ngay lập tức, và nếu phù hợp, nên bắt đầu liệu pháp thay thế.
Khác:
Thuốc này có chứa lactose. Bệnh nhân mắc các rối loạn chuyển hóa di truyền hiếm gặp về không dung nạp galactose, chứng thiếu hụt lactase Lapp hoặc rối loạn hấp thu glucose-galactose không nên sử dụng thuốc này.
Thuốc này có chứa phẩm màu sunset yellow. Chất này có nguy cơ gây phản ứng dị ứng. Cần thận trọng khi dùng thuốc ở bệnh nhân có cơ địa dị ứng.

Các khuyến cáo dùng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú

Thời kỳ mang thai:
Không nên dùng thuốc ức chế men chuyển (ACE) trong ba tháng đầu của thai kỳ. Chống chỉ định dùng các thuốc ức chế men chuyển trong 3 tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ.
Bằng chứng dịch tễ học liên quan đến nguy cơ gây quái thai sau khi tiếp xúc với thuốc ức chế men chuyển trong ba tháng đầu của thai kỳ chưa được kết luận, tuy nhiên không thể loại trừ có sự gia tăng nhỏ về nguy cơ. Trừ khi tiếp tục điều trị với thuốc ức chế men chuyển được xem là cần thiết, bệnh nhân có kế hoạch mang thai nên được đổi sang điều trị tăng huyết áp bằng thuốc thay thế mà thông tin an toàn để sử dụng trong thời kỳ mang thai đã được thiết lập. Khi mang thai được xác định, nên ngưng điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển ngay lập tức, và nếu thích hợp, nên bắt đầu điều trị thay thế.
Dùng thuốc ức chế men chuyển trong giai đoạn ba tháng giữa và 3 tháng cuối của thai kỳ đã được biết là gây độc cho thai nhi người (giảm chức năng thận, thiểu ối, chậm cốt hóa xương sọ) và độc tính trên trẻ sơ sinh (suy thận, hạ huyết áp, tăng kali máu). Nếu phải điều trị với thuốc ức chế men chuyển ở 3 tháng giữa của thai kỳ, nên siêu âm kiểm tra chức năng thận và hộp sọ. Trẻ em có mẹ đã dùng thuốc ức chế men chuyển nên được theo dõi chặt chẽ đối với tình trạng hạ huyết áp.
Thời kỳ cho con bú:
Vì chưa có thông tin về việc dùng lisinopril trong thời gian cho con bú, không nên dùng lisinopril trong thời kỳ này và tốt hơn nên điều trị thay thế với thuốc có thông tin an toàn hơn đã được thiết lập, đặc biệt trong khi nuôi trẻ sơ sinh và trẻ sinh non bằng sữa mẹ.

Tác động của thuốc đến khả năng lái xe và vận hành máy móc

Chưa thấy thuốc có ảnh hưởng tới người lái xe và vận hành máy móc, tuy nhiên, nên thận trọng vì trong thời gian uống thuốc có thể biểu hiện đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi.

Tương tác, tương kỵ của thuốc

Các thuốc điều trị tăng huyết áp:
Khi phối hợp lisinopril với các thuốc điều trị tăng huyết áp khác (ví dụ: Glyceryl trinitrat và các nitrat khác, hoặc các thuốc giãn mạch khác) tình trạng huyết áp hạ nhiều hơn có thể xảy ra. Dữ liệu thử nghiệm lâm sàng cho thấy rằng ức chế kép hệ renin-angiotensin-aldosteron (RAAS) thông qua việc sử dụng kết hợp của các thuốc ức chế ACE, thuốc chẹn thụ thể angiotensin II hoặc aliskiren có liên quan đến tần suất cao hơn các tác dụng ngoại ý như hạ huyết áp, tăng kali máu và giảm chức năng thận (bao gồm cả suy thận cấp) so với việc sử dụng một tác nhân gây RAAS.
Thuốc lợi tiểu:
Khi thêm một thuốc lợi tiểu vào liệu pháp điều trị của bệnh nhân đang sử dụng lisinopril, tác dụng điều trị tăng huyết áp thường tăng thêm.
Bệnh nhân đang dùng thuốc lợi tiểu và đặc biệt là ở các bệnh nhân mà liệu pháp lợi tiểu vừa được thực hiện, đôi khi bị hạ huyết áp quá mức khi dùng thêm lisinopril. Khả năng bị hạ huyết áp triệu chứng với lisinopril có thể được giảm thiểu bằng cách ngưng thuốc lợi tiểu trước khi bắt đầu điều trị với lisinopril.
Chất bổ sung kali, thuốc lợi tiểu giữ kali hoặc các chất thay thế muối chứa kali và các thuốc khác có thể tăng nồng độ kali huyết tương:
Mặc dù trong các thử nghiệm lâm sàng nồng độ kali trong huyết thanh thường giữ lại trong mức giới hạn bình thường, tình trạng tăng kali máu đã xảy ra ở một số bệnh nhân. Việc sử dụng chất bổ sung kali, thuốc lợi tiểu giữ kali hoặc các chất thay thế muối có chứa kali và các thuốc khác có thể tăng nồng độ kali huyết thanh, đặc biệt ở bệnh nhân suy thận, có thể dẫn đến nồng độ kali huyết thanh tăng đáng kể.
Theo dõi kali phải được thực hiện thích hợp. Nếu lisinopril được dùng chung với thuốc lợi tiểu làm mất kali, tình trạng giảm kali huyết do thuốc lợi tiểu gây ra có thể được cải thiện.
Lithi:
Sự gia tăng nồng độ và độc tính của lithi trong huyết thanh có hồi phục đã được ghi nhận khi dùng đồng thời lithi với thuốc ức chế men chuyển. Sử dụng đồng thời với thuốc lợi tiểu loại thiazid với thuốc ức chế men chuyển có thể làm tăng nguy cơ độc tính của lithi và tăng cường độc tính đã tăng của lithi với chất ức chế men chuyển. Không khuyến cáo dùng lisinopril chung với lithi, nhưng nếu cần thiết phải kết hợp, phải theo dõi cẩn thận mức lithi trong huyết thanh.
Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) bao gồm acid acetylsalicylic ≥ 3 g/ngày:
Khi thuốc ức chế men chuyển được dùng đồng thời với các thuốc chống viêm không steroid (acid acetylsalicylic trong các phác đồ dùng thuốc chống viêm, thuốc ức chế COX-2 và các NSAID không chọn lọc), giảm tác động điều trị tăng huyết áp có thể xảy ra. Sử dụng đồng thời các chất ức chế men chuyển và các thuốc chống viêm không steroid có thể làm tăng nguy cơ làm suy giảm chức năng thận, bao gồm có thể suy thận cấp và tăng kali huyết thanh, đặc biệt ở những bệnh nhân có chức năng thận kém trước đó. Những tác động này thường có thể hồi phục. Sự phối hợp nên được thực hiện thận trọng, đặc biệt ở người cao tuổi. Bệnh nhân nên được cung cấp nước đầy đủ và cần phải xem xét theo dõi chức năng thận sau khi bắt đầu điều trị phối hợp, và định kỳ sau đó.
Vàng:
Phản ứng Nitritoid (triệu chứng giãn mạch bao gồm: Đỏ bừng, buồn nôn, chóng mặt và hạ huyết áp, có thể rất nghiêm trọng) sau khi sử dụng vàng dưới dạng tiêm (ví dụ: Natri aurothiomalat) đã được báo cáo thường xuyên xảy ra ở những bệnh nhân được điều trị bằng thuốc ức chế men chuyển.
Thuốc chống trầm cảm 3 vòng/Thuốc chống loạn thần/Thuốc gây mê:
Khi dùng chung thuốc gây mê, thuốc chống trầm cảm 3 vòng và thuốc chống loạn thần với thuốc ức chế men chuyển có thể dẫn đến giảm huyết áp hơn nữa.
Thuốc giống giao cảm:
Thuốc giống giao cảm có thể làm giảm tác dụng điều trị tăng huyết áp của thuốc ức chế men chuyển.
Thuốc điều trị đái tháo đường:
Các nghiên cứu dịch tễ học đề nghị dùng đồng thời các thuốc ức chế men chuyển và thuốc điều trị đái tháo đường (insulin, thuốc uống hạ đường huyết) có thể làm tăng tác động hạ đường huyết với nguy cơ tụt đường huyết. Hiện tượng này dường như có thể xảy ra nhiều hơn trong những tuần đầu điều trị kết hợp và ở bệnh nhân suy thận.
Chất hoạt hóa plasminogen mô:
Điều trị đồng thời với chất hoạt hóa plasminogen mô có thể tăng nguy cơ phù mạch.
Acid acetylsalicylic, thuốc tan huyết khối, thuốc chẹn bêta, thuốc nhóm nitrat:
Lisinopril có thể sử dụng đồng thời với acid acetylsalicylic (ở các liều dùng cho bệnh lý tim mạch), thuốc tan huyết khối, thuốc chẹn bêta và/hoặc thuốc nhóm nitrat.
Thông báo cho bác sỹ biết các thuốc đã dùng trong lúc sử dụng lisinopril.

Tác dụng không mong muốn

Các tác dụng không mong muốn sau đây được ghi nhận và báo cáo trong thời gian điều trị với lisinopril và các thuốc ức chế ACE khác với tần suất sau đây:
Rất thường gặp, ADR ≥ 1/10
Thường gặp, 1/100 ≤ ADR < 1/10
Ít gặp, 1/1000 < ADR < 1/100
Hiếm gặp, 1/10000 < ADR < 1/1000
Rất hiếm gặp, < 1/10000
– Rối loạn máu và hệ bạch huyết:
+ Hiếm gặp: Giảm hemoglobin, giảm hematocrit.
+ Rất hiếm gặp: Suy tủy xương, thiếu máu, giảm tiểu cầu, giảm bạch cầu, giảm bạch cầu trung tính, giảm bạch cầu hạt, thiếu máu tán huyết, bệnh hạch bạch huyết, bệnh tự miễn.
– Rối loạn nội tiết:
+ Hiếm gặp: Hội chứng bài tiết hormon kháng lợi tiểu không thích hợp (SIADH).
– Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng:
+ Rất hiếm: Hạ đường huyết.
– Rối loạn hệ thần kinh và tâm thần:
+ Thường gặp: Chóng mặt, nhức đầu.
+ Ít gặp: Thay đổi tâm trạng, dị cảm, chóng mặt, rối loạn vị giác, rối loạn giấc ngủ, ảo giác.
+ Hiếm gặp: Lú lẫn tâm thần, rối loạn khứu giác.
+ Chưa biết: Triệu chứng trầm cảm, ngất.
– Rối loạn tim mạch:
+ Thường gặp: Tác động tư thế (bao gồm hạ huyết áp).
+ Ít gặp: Nhồi máu cơ tim hoặc tai biến mạch máu não, có lẽ là thứ phát do hạ huyết áp quá mức ở bệnh nhân có nguy cơ cao, đánh trống ngực, nhịp tim nhanh. Hiện tượng Raynaud.
– Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất:
+ Thường gặp: Ho.
+ Ít gặp: Viêm mũi.
+ Rất hiếm: Co thắt phế quản, viêm xoang, viêm phế nang do dị ứng/viêm phổi tăng bạch cầu ái toan.
– Rối loạn tiêu hóa:
+ Thường gặp: Tiêu chảy, nôn mửa.
+ Ít gặp: Buồn nôn, đau bụng và khó tiêu.
+ Hiếm gặp: Khô miệng.
+ Rất hiếm gặp: Viêm tụy, phù mạch tại ruột, viêm gan- tế bào gan hoặc ứ mật, vàng da và suy gan.
– Rối loạn da và mô dưới da:
+ Ít gặp: Phát ban, ngứa.
+ Hiếm gặp: Quá mẫn/phù thần kinh mạch: Phù thần kinh mạch ở mặt, tay chân, môi, lưỡi, thanh môn, và/hoặc thanh quản, mày đay, rụng tóc, vẩy nến.
+ Rất hiếm: Đổ mồ hôi, bệnh pemphigus, hoại tử thượng bì nhiễm độc, hội chứng Stevens-Johnson và hồng ban đa dạng, u lympho giả trên da.
Phức hợp triệu chứng đã được báo cáo và có thể bao gồm một hoặc nhiều triệu chứng sau đây: Sốt, viêm mạch máu, đau cơ, đau khớp/viêm khớp, kháng thể kháng nhân (ANA) dương tính, tăng tốc độ lắng hồng cầu (ESR), tăng bạch cầu ái toan và tăng bạch cầu, nổi mẩn, nhạy cảm ánh sáng hoặc các biểu hiện khác ở da có thể xảy ra.
– Rối loạn thận và tiết niệu:
+ Thường gặp: Rối loạn chức năng thận.
+ Hiếm gặp: Ure huyết, suy thận cấp.
+ Rất hiếm gặp: Thiểu niệu/vô niệu.
– Rối loạn hệ sinh sản và tuyến vú:
+ Ít gặp: Bất lực.
+ Hiếm gặp: Nữ hóa tuyến vú.
– Các rối loạn tổng quát và tình trạng tại chỗ:
+ Ít gặp: Mệt mỏi, suy nhược.
– Xét nghiệm:
+ Ít gặp: Tăng ure máu, tăng creatinin huyết thanh, tăng men gan, tăng kali máu.
+ Hiếm gặp: Tăng bilirubin huyết thanh, giảm natri máu.
Dữ liệu an toàn từ các nghiên cứu lâm sàng cho thấy lisinopril nói chung được dung nạp tốt ở trẻ em tăng huyết áp, do đó thông tin an toàn trong nhóm tuổi này là tương đương như khi quan sát ở người lớn.
Hướng dẫn cách xử trí ADR:
Ho: (chiếm tỉ lệ 5 – 20% người bệnh) thường gặp trong tuần đầu điều trị, kéo dài suốt thời gian điều trị, đôi khi phải ngừng điều trị. Tác dụng không mong muốn này có thể do thuốc gián tiếp gây tích lũy bradykinin, chất P và/hoặc prostaglandin ở phổi; sẽ mất trong vòng vài ngày sau khi ngừng lisinopril.
Phù mạch: (chiếm tỉ lệ 0, 1 – 0, 2% người bệnh) biểu hiện là người bệnh nhanh chóng bị sưng phồng mũi, miệng, họng, môi, thanh quản, thanh môn và phù lưỡi; tác dụng không mong muốn này thường không liên quan tới liều dùng và gần như luôn luôn xảy ra trong tuần đầu điều trị, thường là trong vài giờ đầu sau khi bắt đầu dùng thuốc. Phù mạch có thể dẫn tới tắc nghẽn đường hô hấp, suy hô hấp, thậm chí gây tử vong. Mặc dù cơ chế tác dụng chưa biết rõ nhưng có thể do tích lũy bradykinin, chất P và/hoặc prostaglandin, do cảm ứng tự kháng thể đặc hiệu của mô hoặc do ức chế yếu tố bất hoạt bổ thể 1 – esterase. Khi thấy các triệu chứng phù mạch xảy ra phải ngừng lisinopril ngay lập tức, tác dụng không mong muốn này sẽ mất dần sau vài giờ. Trường hợp cấp cứu phải dùng adrenalin, thuốc kháng histamin, và/hoặc corticoid để điều trị.
Đau ngực thường kèm với hạ huyết áp nặng.
Hạ huyết áp: Thường xảy ra khi dùng liều đầu tiên ở người bệnh có tăng hoạt tính renin huyết tương. Cần phải thận trọng về tác dụng này ở người bệnh ăn ít muối, người bệnh đang điều trị phối hợp nhiều thuốc hạ huyết áp và người bệnh bị suy tim sung huyết. Ở những người bệnh này nên khởi đầu điều trị với liều rất thấp hoặc tăng ăn muối và ngừng thuốc lợi tiểu 2 – 3 ngày trước khi bắt đầu điều trị.
Tăng kali huyết: Lisinopril gây tăng kali huyết ở người bệnh suy thận, người bệnh dùng thuốc lợi tiểu giữ kali, dùng các chất bổ sung kali, dùng thuốc chẹn beta hoặc dùng các thuốc chống viêm không steroid.
Protein niệu thường xảy ra với người bệnh suy thận.
Ban da (rát sần, mày đay) thường mất đi khi giảm liều hoặc ngừng thuốc hoặc trường hợp nặng thì nên dùng một thuốc kháng histamin.
Giảm bạch cầu trung tính, mất bạch cầu hạt thường gặp ở người bệnh suy thận hoặc bệnh colagen mạch. Giảm bạch cầu trung tính dường như liên quan đến liều dùng và có thể bắt đầu xuất hiện trong vòng 3 tháng kể từ khi bắt đầu điều trị.
Ngừng dùng thuốc và thông báo cho bác sỹ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Thông báo cho Bác sỹ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.

Quá liều và cách xử trí

Biểu hiện quá liều có thể là giảm huyết áp.
Cách điều trị là truyền tĩnh mạch dung dịch muối đẳng trương. Có thể loại bỏ lisinopril bằng thẩm tách máu.
Dữ liệu về quá liều ở người còn hạn chế. Các triệu chứng liên quan đến quá liều thuốc ức chế men chuyển có thể bao gồm hạ huyết áp, sốc tuần hoàn, rối loạn điện giải, suy thận, tăng thông khí phổi, nhịp tim nhanh, đánh trống ngực, nhịp tim chậm, chóng mặt, lo âu và ho.
Điều trị quá liều được khuyến cáo là truyền tĩnh mạch dung dịch muối sinh lý. Nếu hạ huyết áp nặng xảy ra, nên đặt bệnh nhân nằm ngửa, gác chân cao. Cũng có thể xem xét điều trị với angiotensin II tiêm truyền và/hoặc catecholamin tiêm tĩnh mạch nếu có sẵn. Nếu mới uống thuốc quá liều, áp dụng các biện pháp nhằm đào thải lisinopril (như gây nôn, rửa dạ dày, uống chất hấp phụ và natri sulfat). Có thể loại lisinopril ra khỏi hệ tuần hoàn bằng phương pháp thẩm phân máu. Liệu pháp đặt máy tạo nhịp được chỉ định trong tình trạng chậm nhịp tim kháng trị. Các dấu hiệu sinh tồn, nồng độ chất điện giải và creatinin trong huyết thanh cần được theo dõi thường xuyên.

Các đặc tính dược lực học

Lisinopril là thuốc ức chế cạnh tranh enzym chuyển angiotensin và là một dẫn chất lysin có cấu trúc tương tự enalapril với tác dụng kéo dài. Enzym chuyển angiotensin là enzym nội sinh có vai trò chuyển angiotensin I thành angiotensin II. Angiotensin I tăng trong một số bệnh như suy tim và bệnh thận, do đáp ứng với tăng renin. Angiotensin II có tác dụng kích thích tăng trưởng cơ tim, gây tim to (phì đại cơ tim), và tác dụng co mạch, gây tăng huyết áp. Thuốc ức chế enzym chuyển làm giảm nồng độ angiotensin II và aldosteron do đó làm giảm ứ natri và nước, làm giãn mạch ngoại vi, giảm sức cản ngoại vi ở cả đại tuần hoàn và tuần hoàn phổi. Ngoài ra, thuốc còn ảnh hưởng tới hệ kallikrein – kinin, làm giảm sự phân hủy của bradykinin, dẫn đến tăng nồng độ bradykinin, đây chính là nguyên nhân gây một số tác dụng không mong muốn như phù mạch và ho kéo dài của các thuốc ức chế enzym chuyển.
Trong tăng huyết áp: Thuốc ức chế enzym chuyển thường làm giảm huyết áp trừ khi tăng huyết áp do cường aldosteron tiên phát. Khi mới điều trị, sự thay đổi huyết áp liên quan chặt chẽ với hoạt tính renin huyết tương và nồng độ angiotensin II trong huyết tương trước khi điều trị. Tuy nhiên sau vài tuần điều trị, phần lớn người bệnh thấy giảm huyết áp khá mạnh và tác dụng giảm huyết áp lúc đó ít hoặc không liên quan đến hoạt tính renin huyết tương trước khi điều trị. Các thuốc ức chế enzym chuyển là thuốc hạ huyết áp được ứng dụng rộng rãi trong lâm sàng. Lisinopril được dùng đơn độc hay phối hợp với các thuốc hạ huyết áp khác để điều trị tăng huyết áp.
Trong suy tim: Các thuốc ức chế enzym chuyển làm giảm hậu gánh và giảm căng thành mạch ở thì tâm thu, làm tăng cung lượng và chỉ số tim, làm tăng sức co bóp của tim và tăng thể tích tâm thu. Thuốc cũng làm giảm tiền gánh và giảm căng thành mạch tâm trương; cải thiện được huyết động tốt hơn do đó tăng khả năng gắng sức và ức chế hệ thần kinh giao cảm mạnh hơn. Lưu lượng máu ở não và mạch vành vẫn duy trì tốt ngay cả khi huyết áp bị hạ. Các thuốc ức chế enzym chuyển được chỉ định dùng cho người bệnh giảm chức năng tâm thu, nhằm ngăn chặn hoặc làm chậm sự tiến triển của suy tim, giảm tỉ lệ đột tử và nhồi máu cơ tim, giảm tỉ lệ nằm viện và cải thiện chất lượng cuộc sống. Trừ trường hợp chống chỉ định, các thuốc ức chế enzym chuyển đều được dùng cho mọi người bệnh suy chức năng thất trái, có hay không có những triệu chứng suy tim rõ. Lisinopril được dùng phối hợp với các glycosid trợ tim và các thuốc lợi tiểu để điều trị các triệu chứng suy tim sung huyết.
Trong nhồi máu cơ tim: Lisinopril cũng như các thuốc ức chế enzym chuyển khác là thuốc chuẩn trong điều trị người bệnh nhồi máu cơ tim, được dùng trong vòng 24 giờ sau khi bắt đầu cơn nhồi máu. Ngoài ra, thuốc cũng có tác dụng dự phòng nhồi máu cơ tim. Lisinopril thường được phối hợp với các thuốc chống kết tập tiểu cầu và/hoặc thuốc chẹn beta để làm tăng tỷ lệ sống ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp.
Trong bệnh thận do đái tháo đường: Bệnh đái tháo đường kèm theo tăng huyết áp chắc chắn sẽ dẫn tới bệnh thận do đái tháo đường. Đây là nguyên nhân chính gây suy thận giai đoạn cuối. Lisinopril và các thuốc ức chế enzym chuyển đã chứng tỏ làm chậm suy thận trong bệnh thận do đái tháo đường. Thuốc ức chế enzym chuyển có thể làm chậm bệnh thận mạn tiến triển, như trong đái tháo đường. Do đó, trừ khi có chống chỉ định, người bị bệnh thận do đái tháo đường (dù huyết áp bình thường hay tăng) nên được điều trị bằng thuốc ức chế enzym chuyển.

Các đặc tính dược động học

Hấp thu:
Sau khi uống lisinopril, nồng độ đỉnh trong huyết thanh đạt được trong khoảng 7 giờ, mặc dù có xu hướng chậm hơn chút về thời gian để đạt được nồng độ đỉnh trong huyết thanh ở bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp.
Dựa vào lượng thuốc qua đường tiểu, mức độ hấp thu trung bình của lisinopril là khoảng 25%, với sự biến thiên giữa các bệnh nhân 6-60% đối với khoảng liều được nghiên cứu (5-80 mg). Sinh khả dụng tuyệt đối giảm khoảng 16% ở bệnh nhân suy tim. Thức ăn không ảnh hưởng đến sự hấp thu lisinopril.
Phân bố:
Lisinopril dường như không gắn kết với protein huyết tương khác ngoài men chuyển angiotensin trong máu (ACE). Nghiên cứu trên chuột cho thấy lisinopril đi qua hàng rào máu não rất ít.
Thải trừ:
Lisinopril không qua chuyển hóa và bài tiết toàn bộ dưới dạng không đổi ra nước tiểu. Ở các liều lặp lại, lisinopril có thời gian bán hủy có hiệu quả do tích lũy thuốc là 12, 6 giờ. Hệ số thanh thải lisinopril ở các đối tượng khoẻ mạnh khoảng 50 ml/phút. Sự giảm nồng độ thuốc trong huyết thanh cho thấy một giai đoạn cuối kéo dài mà không góp phần vào sự tích lũy thuốc. Giai đoạn cuối này có lẽ biểu hiện cho việc gắn kết bão hòa với ACE và không tỷ lệ với liều lượng.
Bệnh nhân suy gan:
Tổn thương chức năng gan ở bệnh nhân xơ gan dẫn đến giảm hấp thu lisinopril (khoảng 30% như được xác định qua lượng thuốc tìm thấy trong đường tiểu) nhưng tăng mức độ và thời gian tiếp xúc với thuốc (khoảng 50%) so với người khoẻ mạnh do giảm thanh thải.
Bệnh nhân suy thận:
Tổn thương chức năng thận làm giảm thải trừ thuốc lisinopril, vốn được tiết qua thận nhưng sự giảm này chỉ có ý nghĩa quan trọng về lâm sàng khi tốc độ lọc cầu thận dưới 30 ml/phút. Ở bệnh nhân suy thận nhẹ đến trung bình (độ thanh thải creatinin 30-80 ml/phút), AUC trung bình chỉ tăng 13%, trong khi ở bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin 5-30 ml/phút) AUC trung bình được ghi nhận tăng lên gấp 4, 5 lần.
Lisinopril có thể được đào thải bằng phương pháp thẩm phân. Trong 4 giờ thẩm phân máu, nồng độ lisinopril trong huyết tương giảm trung bình khoảng 60% với độ thanh thải thẩm phân là 40-55 ml/phút.
Bệnh nhân suy tim:
Bệnh nhân suy tim có mức độ và thời gian tiếp xúc với lisinopril lớn hơn khi so với người khoẻ mạnh (AUC tăng trung bình 125%), nhưng nếu dựa vào lượng thuốc tìm thấy trong đường tiểu của lisinopril, hấp thu giảm khoảng 16% so với người khoẻ mạnh.
Người cao tuổi:
Bệnh nhân cao tuổi có nồng độ thuốc trong máu và giá trị diện tích dưới đường cong biểu diễn nồng độ thuốc trong huyết tương theo thời gian sẽ cao hơn so với bệnh nhân trẻ tuổi (tăng khoảng 60%).
Trẻ em:
Thông tin dược động học của lisinopril được nghiên cứu ở 29 bệnh nhi tăng huyết áp, từ 6 đến 16 tuổi, với chỉ số GFR trên 30 ml/phút/1, 73m2. Sau khi sử dụng các liều từ 0, 1-0, 2 mg/kg, nồng độ đỉnh trong huyết tương của lisinopril đạt trạng thái ổn định trong vòng 6 giờ, và mức độ hấp thu dựa trên lượng thu hồi trong nước tiểu khoảng 28%. Những giá trị này tương tự như giá trị thu được trước đây ở người lớn.
AUC và Cmax ở trẻ em trong nghiên cứu này đã phù hợp với kết quả đã quan sát ở người lớn.

Điều kiện bảo quản, hạn dùng, tiêu chuẩn chất lượng của thuốc

Bảo quản: Nhiệt độ dưới 30 độ C, tránh ẩm và ánh sáng.
Hạn dùng của thuốc: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
Tiêu chuẩn chất lượng: TCCS