Chỉ định:
LIPAGIM 100 được chỉ định hỗ trợ cho chế độ ăn kiêng và các biện pháp không dùng thuốc khác (như tập thể dục, giảm cân) trong việc điều trị:
- Tăng triglycerid máu nặng có hoặc không kèm theo nồng độ HDL-cholesterol thấp.
- Tăng lipid máu hỗn hợp khi có chống chỉ định hoặc không dung nạp với statin.
- Phối hợp với statin trong điều trị tăng lipid máu hỗn hợp ở bệnh nhân có nguy cơ cao về tim mạch không kiểm soát được nồng độ triglycerid và HDL-cholesterol.
Cách dùng, liều dùng:
Cách dùng:
Thuốc dùng theo đường uống, uống cả viên thuốc cùng với bữa ăn.
Chế độ ăn kiêng ban đầu trước khi điều trị nên được tiếp tục duy trì. Cần theo dõi đáp ứng điều trị bằng cách xác định nồng độ lipid huyết thanh. Nếu không đạt được đáp ứng đầy đủ sau vài tháng (ví dụ 3 tháng), nên xem xét các biện pháp điều trị bổ sung hoặc biện pháp khác.
Liều dùng:
Liều khuyến cáo là 3 viên/ngày. Nếu cần, có thể tăng liều lên 4 viên/ngày.
Bệnh nhân cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên):
Không cần điều chỉnh liều. Khuyến cáo dùng liều thông thường, trừ trường hợp suy thận với độ lọc cầu thận ước tính (eGFR) < 60 ml/phút/1,73 m².
Bệnh nhân suy thận:
Không nên sử dụng fenofibrat ở bệnh nhân suy thận nặng (eGFR < 30 ml/phút/1,73 m²).
Nếu eGFR từ 30 – 59 ml/phút/1,73 m², liều không được vượt quá 100 mg fenofibrat tiêu chuẩn hoặc 67 mg fenofibrat dạng vi hạt một lần mỗi ngày.
Nếu trong quá trình điều trị, eGFR giảm liên tục xuống < 30 ml/phút/1,73 m² nên ngừng điều trị với fenofibrat.
Bệnh nhân suy gan:
Không khuyến cáo dùng fenofibrat cho bệnh nhân suy gan do chưa có đủ dữ liệu.
Trẻ em:
Tính an toàn và hiệu quả của fenofibrat ở trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi chưa được xác định. Không có dữ liệu sẵn có. Vì vậy, không khuyến cáo dùng fenofibrat cho trẻ em và thanh thiếu niên dưới 18 tuổi.
Một số lưu ý đặc biệt về xử lý thuốc trước và sau khi sử dụng thuốc:
Không có yêu cầu đặc biệt về xử lý thuốc sau khi sử dụng.
Chống chỉ định:
Quá mẫn với fenofibrat hoặc với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
Suy gan (kể cả xơ gan tắc mật và các bất thường chức năng gan dai dẳng không rõ nguyên nhân).
Suy thận nặng (độ lọc cầu thận ước tính < 30 ml/phút/1,73 m²).
Tiền sử có phản ứng dị ứng với ánh sáng hoặc nhiễm độc ánh sáng trong quá trình điều trị bằng các fibrat hoặc ketoprofen.
Tiền sử bệnh ở túi mật.
Viêm tụy cấp hoặc mạn tính, trừ trường hợp viêm tụy cấp do tăng triglycerid máu nặng.
Kết hợp với rosuvastatin liều 40 mg.
Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc:
Các tình trạng cần thận trọng:
Nguyên nhân thứ phát gây tăng lipid máu:
Trước khi xem xét điều trị với fenofibrat, cần điều trị đầy đủ các nguyên nhân thứ phát gây tăng cholesterol máu như đái tháo đường tuýp 2 không kiểm soát, suy giáp, hội chứng thận hư, rối loạn protein máu, ứ mật gan hoặc nghiện rượu.
Nguyên nhân thứ phát gây tăng cholesterol máu sau điều trị bằng thuốc có thể gặp phải khi dùng thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn beta, estrogen, progestin, thuốc tránh thai uống chứa estrogen – progestogen, thuốc ức chế miễn dịch hoặc thuốc ức chế protease. Trong những trường hợp này, cần xác định chắc chắn liệu tăng lipid máu có bản chất nguyên phát hay thứ phát (có thể tăng nồng độ lipid do sử dụng các thuốc này).
Chức năng gan:
Giống như các thuốc hạ lipid máu khác, đã có báo cáo về tăng nồng độ transaminase ở một số bệnh nhân điều trị bằng fenofibrat. Hầu hết các trường hợp này chỉ tăng thoáng qua, ít và không có triệu chứng. Nên theo dõi nồng độ transaminase mỗi 3 tháng trong 12 tháng đầu điều trị và định kỳ sau đó. Cần lưu ý đặc biệt những bệnh nhân tăng nồng độ transaminase tiến triển và ngừng điều trị nếu nồng độ aspartat aminotransferase (ASAT) và alanin aminotransferase (ALAT) tăng hơn 3 lần giới hạn trên của mức bình thường. Khi xuất hiện các triệu chứng viêm gan (như vàng da, ngứa) và chẩn đoán này đã được xác định thông qua các xét nghiệm, nên ngừng điều trị bằng fenofibrat.
Viêm tụy:
Viêm tụy đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng fenofibrat, có thể liên quan đến thất bại điều trị ở bệnh nhân tăng triglycerid máu nặng, hoặc là tác dụng trực tiếp của thuốc hoặc hiện tượng thứ phát qua việc hình thành sỏi hoặc cặn lắng trong đường mật gây tắc nghẽn ống mật chủ.
Cơ:
Đã có báo cáo về tổn thương cơ, bao gồm các trường hợp hiếm gặp như tiêu cơ vân kèm hoặc không kèm theo suy thận khi dùng fibrat hoặc các thuốc hạ lipid máu khác. Tỷ lệ mắc các rối loạn này tăng lên khi bị hạ albumin máu và suy thận trước đó.
Bệnh nhân có nguy cơ mắc bệnh về cơ hoặc tiêu cơ vân, bao gồm những người trên 70 tuổi, tiền sử bản thân hoặc gia đình bị tổn thương cơ di truyền, suy giảm chức năng thận, suy tuyến giáp hoặc uống nhiều rượu, có nguy cơ mắc tiêu cơ vân cao hơn. Ở những bệnh nhân này, nên cân nhắc cẩn thận giữa lợi ích và nguy cơ của việc điều trị với fenofibrat.
Tổn thương cơ nên được xem xét ở những bệnh nhân có biểu hiện đau cơ lan tỏa, viêm cơ, chuột rút và yếu cơ, và/hoặc tăng CPK đáng kể (> 5 lần giới hạn trên của mức bình thường). Trong những trường hợp này, nên ngừng điều trị bằng fenofibrat.
Nguy cơ tổn thương cơ có thể tăng lên nếu dùng đồng thời với các thuốc fibrat khác hoặc thuốc ức chế HMG-CoA reductase, đặc biệt trong trường hợp có tiền sử bệnh cơ. Do đó, việc kê đơn phối hợp fenofibrat với thuốc ức chế HMG-CoA reductase hoặc thuốc fibrat khác nên dành cho bệnh nhân bị rối loạn lipid máu nặng kèm theo nguy cơ bệnh tim mạch cao mà không có tiền sử bệnh cơ. Cần sử dụng thận trọng và theo dõi chặt chẽ dấu hiệu tổn thương cơ. Chống chỉ định phối hợp fenofibrat với rosuvastatin liều 40 mg (xem phần Chống chỉ định và Tương tác).
Chức năng thận:
Fenofibrat chống chỉ định ở bệnh nhân suy thận nặng (xem mục Chống chỉ định).
Fenofibrat nên được sử dụng thận trọng ở bệnh nhân suy thận nhẹ đến trung bình. Nên điều chỉnh liều ở những bệnh nhân có độ lọc cầu thận ước tính từ 30 – 59 ml/phút/1,73 m² (xem mục Liều dùng).
Sự gia tăng có thể hồi phục của nồng độ creatinin trong huyết thanh đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng đơn trị liệu fenofibrat hoặc phối hợp với statin. Tăng creatinin huyết thanh thường ổn định theo thời gian, không có bằng chứng cho thấy creatinin huyết thanh tiếp tục tăng khi điều trị dài hạn và có xu hướng trở về mức ban đầu sau khi ngừng điều trị.
Trong các nghiên cứu lâm sàng, 10% bệnh nhân có sự gia tăng creatinin > 30 μmol/l so với ban đầu khi dùng phối hợp fenofibrat và simvastatin so với 4,4% bệnh nhân dùng statin đơn trị liệu. 0,3% bệnh nhân điều trị phối hợp có liên quan đến lâm sàng tăng creatinin > 200 μmol/l.
Nên ngừng điều trị khi nồng độ creatinin cao hơn 50% giới hạn trên của mức bình thường. Nên đo nồng độ creatinin trong 3 tháng đầu sau khi bắt đầu điều trị và định kỳ sau đó.
Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Thời kỳ có thai:
Không có dữ liệu sẵn có về việc sử dụng fenofibrat ở phụ nữ có thai.
Nghiên cứu trên động vật không cho thấy tác dụng gây quái thai. Tuy nhiên, đã quan sát được dấu hiệu độc cho bào thai ở mức liều độc cho con vật mẹ. Nguy cơ tiềm ẩn ở người vẫn chưa được biết. Do đó, chỉ nên sử dụng thuốc này cho phụ nữ có thai sau khi đánh giá cẩn thận lợi ích và nguy cơ.
Thời kỳ cho con bú:
Chưa có dữ liệu về sự bài tiết của fenofibrat và/hoặc của các chất chuyển hóa của nó vào sữa mẹ. Nguy cơ đối với trẻ bú sữa mẹ chưa được loại trừ. Vì vậy, không dùng fenofibrat cho phụ nữ trong thời kỳ cho con bú.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc:
Fenofibrat không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến khả năng lái xe và vận hành máy móc.
Tương tác, tương kỵ của thuốc:
Tương tác của thuốc với các thuốc khác và các loại tương tác khác:
Rosuvastatin 40 mg: Nguy cơ làm tăng các tác dụng phụ (phụ thuộc vào liều) như tiêu cơ vân. Phối hợp này bị chống chỉ định.
Các thuốc ức chế HMG-CoA reductase và các fibrat khác: Nguy cơ tổn thương cơ nghiêm trọng tăng lên nếu fenofibrat dùng kết hợp với các thuốc ức chế HMG-CoA reductase hoặc các fibrat khác. Liệu pháp kết hợp này nên sử dụng thận trọng và bệnh nhân cần được theo dõi chặt chẽ các dấu hiệu tổn thương cơ.
Ezetimib: Nguy cơ sỏi mật do tăng bài tiết cholesterol qua mật.
Các thuốc chống đông máu đường uống: Fenofibrat làm tăng tác dụng của các thuốc chống đông máu đường uống và có thể làm tăng nguy cơ chảy máu. Tuy nhiên nếu sự kết hợp này là bắt buộc, nên giảm 1/3 liều thuốc chống đông máu đường uống khi bắt đầu điều trị và sau đó điều chỉnh liều dần dần nếu cần thiết dựa theo chỉ số INR (Tỷ lệ chuẩn quốc tế).
Cyclosporin: Các trường hợp suy giảm chức năng nặng nhưng có thể hồi phục đã được báo cáo khi dùng đồng thời fenofibrat và cyclosporin. Ở những bệnh nhân này, chức năng thận cần được theo dõi chặt chẽ và ngừng điều trị với fenofibrat trong trường hợp các chỉ số xét nghiệm thay đổi đáng kể.
Các glitazon: Một số trường hợp giảm thuận nghịch có hồi phục HDL-cholesterol đã được ghi nhận khi dùng đồng thời fenofibrat và các glitazon. Tuy nhiên, nên theo dõi mức HDL-cholesterol nếu hai loại thuốc này được dùng kết hợp và dừng một trong hai thuốc nếu mức HDL-cholesterol quá thấp.
Enzym cytochrom P450: Nghiên cứu in vitro trên microsom gan người cho thấy fenofibrat và acid fenofibric không ức chế các đồng phân cytochrom (CYP) P450 như CYP3A4, CYP2D6, CYP2E1 hoặc CYP1A2. Ở nồng độ điều trị, chúng là chất ức chế yếu CYP2C19 và CYP2A6, và ức chế nhẹ đến trung bình với CYP2C9.
Bệnh nhân dùng đồng thời fenofibrat và các thuốc được chuyển hóa bởi CYP2C19, CYP2A6 và đặc biệt là CYP2C9 có chỉ số điều trị hẹp nên được theo dõi cẩn thận và nếu cần, nên điều chỉnh liều của các thuốc này.
Tương kỵ của thuốc:
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
Tác dụng không mong muốn:
Các phản ứng có hại được phân nhóm theo tần suất: Rất thường gặp (ADR ≥ 1/10), thường gặp (1/100 ≤ ADR < 1/10), ít gặp (1/1.000 ≤ ADR < 1/100), hiếm gặp (1/10.000 ≤ ADR < 1/1.000), rất hiếm gặp (ADR < 1/10.000); không thể ước lượng tần suất được liệt kê “Chưa rõ tần suất”.
Các tác dụng không mong muốn thường gặp nhất được báo cáo trong quá trình điều trị bằng fenofibrat là các rối loạn tiêu hóa, dạ dày, ruột.
Rối loạn máu và hệ bạch huyết:
Hiếm gặp: Giảm hemoglobin và bạch cầu.
Rối loạn hệ miễn dịch:
Hiếm gặp: Dị ứng.
Rối loạn hệ thần kinh:
Ít gặp: Đau đầu.
Rối loạn mạch máu:
Ít gặp: Thuyên tắc huyết khối (thuyên tắc phổi, huyết khối tĩnh mạch sâu).
Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất:
Chưa rõ tần suất: Bệnh phổi kẽ.
Rối loạn tiêu hóa:
Thường gặp: Dấu hiệu và triệu chứng rối loạn tiêu hóa (đau bụng, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đầy hơi).
Ít gặp: Viêm tuỵ.
Rối loạn gan – mật:
Thường gặp: Tăng nồng độ transaminase.
Ít gặp: Sỏi mật.
Hiếm gặp: Viêm gan.
Chưa rõ tần suất: Vàng da, biến chứng sỏi mật (như viêm túi mật, viêm đường mật, cơn đau sỏi mật).
Rối loạn da và mô dưới da:
Ít gặp: Quá mẫn trên da (như phát ban, ngứa, mày đay).
Hiếm gặp: Rụng tóc, phản ứng nhạy cảm với ánh sáng.
Chưa rõ tần suất: Phản ứng nghiêm trọng ở da (như hồng ban đa dạng, hội chứng Stevens-Johnson, hoại tử thượng bì nhiễm độc).
Rối loạn cơ xương và mô liên kết:
Ít gặp: Rối loạn cơ (như đau cơ lan toả, viêm cơ, co rút cơ, yếu cơ).
Chưa rõ tần suất: Tiêu cơ vân.
Các rối loạn về ngực và hệ thống sinh sản:
Ít gặp: Rối loạn chức năng tình dục.
Rối loạn chung:
Chưa rõ tần suất: Mệt mỏi.
Các xét nghiệm:
Thường gặp: Tăng nồng độ homocystein máu.
Ít gặp: Tăng creatinin máu.
Hiếm gặp: Tăng urê máu.
Hướng dẫn cách xử trí ADR: Tạm ngừng dùng thuốc.
Thông báo ngay cho bác sỹ hoặc dược sỹ những phản ứng có hại gặp phải khi sử dụng thuốc.
Quá liều và cách xử trí:
Quá liều:
Chỉ có một số trường hợp riêng lẻ quá liều fenofibrat được báo cáo. Trong hầu hết các trường hợp, không có triệu chứng quá liều được báo cáo.
Xử trí:
Không có thuốc giải độc đặc hiệu. Nếu nghi ngờ quá liều, nên điều trị triệu chứng và dùng các biện pháp hỗ trợ thích hợp. Thẩm tách máu không có tác dụng loại bỏ fenofibrat khỏi cơ thể.
Đặc tính dược lực học:
Nhóm dược lý: Nhóm thuốc điều chỉnh lipid – Các thuốc hạ cholesterol và triglycerid – Fibrat.
Mã ATC: C10AB05.
Fenofibrat là một dẫn chất của acid fibric có tác dụng hạ lipid máu ở người. Fenofibrat tác động gián tiếp thông qua việc kích hoạt thụ thể tăng sinh peroxisom tuýp alpha (PPARα), làm tăng quá trình phân hủy lipid và đào thải các tiểu phân giàu triglycerid có khả năng gây xơ vữa trong huyết tương bằng cách hoạt hóa lipoprotein lipase và giảm quá trình tổng hợp apoprotein C-III. Kích hoạt PPARα cũng có thể làm tăng tổng hợp các apoprotein A-I và A-II.
Các tác dụng này của fenofibrat trên lipoprotein dẫn tới làm giảm tỷ lệ VLDL và LDL chứa apoprotein B và tăng tỷ lệ HDL chứa apoprotein A-I và A-II. Ngoài ra, bằng cách điều chỉnh quá trình tổng hợp và dị hóa VLDL, fenofibrat làm tăng thanh thải LDL và giảm nồng độ LDL. Nồng độ LDL thường tăng ở bệnh nhân có nguy cơ bệnh mạch vành.
Trong các nghiên cứu lâm sàng, fenofibrat làm giảm nồng độ cholesterol toàn phần 20 – 25%, giảm triglycerid 40 – 55% và tăng nồng độ HDL-cholesterol 10 – 30%. Bệnh nhân tăng cholesterol máu có nồng độ LDL-cholesterol đã được giảm 20 – 35%, tác dụng toàn bộ trên cholesterol làm giảm tỷ lệ cholesterol toàn phần/HDL-cholesterol, LDL-cholesterol/HDL-cholesterol hoặc Apo B/Apo A-I (là những dấu hiệu của xơ vữa động mạch).
Fenofibrat cho thấy làm giảm biến cố mạch vành, tuy nhiên không làm giảm tỷ lệ tử vong do mọi nguyên nhân trong ngăn ngừa bệnh tim mạch nguyên phát và thứ phát.
Ngưng đọng cholesterol ngoài mạch (gân và u vàng thể củ) có thể giảm rõ rệt hoặc thậm chí được loại bỏ hoàn toàn khi điều trị với fenofibrat.
Bệnh nhân có nồng độ fibrinogen cao được điều trị bằng fenofibrat cho thấy thông số này giảm đáng kể cũng như với những người có nồng độ Lp(a) cao. Các chất biểu hiện của viêm như CRP giảm khi điều trị bằng fenofibrat.
Fenofibrat làm tăng đào thải acid uric qua nước tiểu làm giảm nồng độ acid uric khoảng 25%, có lợi ích hơn cho những bệnh nhân rối loạn lipid huyết kèm tăng uric huyết.
Fenofibrat được chứng minh có tác dụng chống kết tập tiểu cầu ở động vật và ở một nghiên cứu lâm sàng (làm giảm tiểu cầu do ADP, acid arachidonic và epinephrin).
Trẻ em:
Các tác dụng ngoại ý tương tự như ở người lớn đã được báo cáo ở trẻ em: Giảm bạch cầu, chức năng gan bất thường, suy thận, viêm gan, vàng da, viêm cơ và tiêu cơ vân. Nhìn chung, tính an toàn và hiệu quả của fenofibrat ở trẻ em và thanh thiếu niên vẫn chưa được xác định.
Đặc tính dược động học:
Hấp thu:
Nồng độ tối đa trong huyết tương (Cmax) đạt được từ 4 đến 5 giờ sau khi uống. Trong cùng một cá thể, nồng độ này ổn định khi điều trị liên tục.
Dùng đồng thời với thức ăn làm tăng hấp thu fenofibrat.
Phân bố:
Acid fenofibric liên kết mạnh với albumin huyết tương (trên 99%).
Chuyển hóa:
Sau khi uống, fenofibrat nhanh chóng bị thủy phân bởi esterase thành chất chuyển hóa có hoạt tính là acid fenofibric. Không phát hiện dạng fenofibrat chưa chuyển hóa trong huyết tương. Fenofibrat không phải là cơ chất của CYP3A4. Fenofibrat không chuyển hóa qua microsom gan.
Thải trừ:
Thuốc được thải trừ chủ yếu qua nước tiểu dưới dạng acid fenofibric và chất liên hợp glucuronid của nó. Sự đào thải của thuốc gần như hoàn toàn trong 6 ngày. Ở những bệnh nhân cao tuổi, tổng độ thanh thải trong huyết tương không thay đổi.
Các nghiên cứu động học sau khi dùng liều đơn và điều trị tiếp tục cho thấy không có sự tích lũy thuốc. Acid fenofibric không bị loại bỏ bằng thẩm tách máu.
Thời gian bán thải trong huyết tương của acid fenofibric là khoảng 20 giờ.
Điều kiện bảo quản, hạn dùng, tiêu chuẩn chất lượng của thuốc:
Điều kiện bảo quản: Nhiệt độ dưới 300C, tránh ẩm và ánh sáng.
Hạn dùng của thuốc: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
Tiêu chuẩn chất lượng: TCCS.


