About the author admin

Có cần thiết lưu trữ tế bào gốc máu cuống rốn của con?

Có cần thiết lưu trữ tế bào gốc máu cuống rốn của con?

Gần đây, nhiều gia đình chọn lưu trữ tế bào gốc máu cuống rốn khi sinh con, như một cách “bảo hiểm” sức khỏe con cái trong tương lai. Tuy nhiên, nhiều ý kiến của các chuyên gia về việc lưu trữ này có thật sự lợi ích?

Những người quyết định lưu trữ tế bào gốc máu cuống rốn hy vọng những tế bào gốc này có thể giúp chữa được bệnh trong trường hợp không may con cái hay các thành viên khác trong gia đình mắc phải trong tương lai.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến của các chuyên gia tranh cãi về việc lưu trữ này liệu thật sự có nhiều lợi ích hay chỉ là “một canh bạc đắt tiền”, theo Daily Mail.

Giáo sư Sir Robert Lechler, Chủ tịch Học viện Khoa học Y khoa (Anh), cho biết không nên quá phóng đại các kết quả nghiên cứu tế bào gốc. Đa số nghiên cứu này chỉ mới được thực hiện ở giai đoạn đầu. Đừng quá tin vào những lời quảng cáo của nhiều trung tâm y tế cường điệu hóa tác dụng thần kỳ của tế bào gốc giúp chữa nhiều loại bệnh không thể chữa trị, giáo sư Lechler khuyên.

“Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu cũng mang đến cho chúng ta nhiều hy vọng về tiềm năng trong phương pháp điều trị trên”, ông Lechler cho biết thêm.

Hiện tại, ở Anh, có sáu ngân hàng tư nhân lưu trữ tế bào gốc máu cuống rốn và nhau thai được cơ quan quản lý mô – Human Tissue Authority cấp phép. Những ngân hàng này lưu trữ tế bào gốc bằng nitơ lỏng với thời gian lưu trữ kéo dài khoảng 20 năm.

Chi phí trung bình cho suốt quá trình lưu trữ đó là khoảng 2.000 bảng Anh (khoảng 60,8 triệu đồng), theo Daily Mail.

Tế bào gốc đã được sử dụng để điều trị cho những đứa trẻ bị ung thư máu và cũng được dùng thử nghiệm cho điều trị bại não và tự kỷ.

Tuy nhiên, một trở ngại chính là máu cuống rốn không chứa đủ các tế bào gốc để điều trị cho người lớn. Điều đó có nghĩa rằng chúng chỉ được sử dụng trong một thời gian nhất định, theo Giám đốc Khoa học của Ngân hàng Tế bào gốc Smart Cells (Anh), nói với Daily Mail.

Theo giáo sư Brendon Noble của Quỹ Tế bào Gốc Anh, trong thời gian sắp tới khi chúng ta có thể tạo ra tế bào gốc từ tế bào người lớn thì việc lưu trữ tế bào gốc máu cuống rốn sẽ không còn cần thiết.

Vi khuẩn kháng kháng sinh có thể lây từ người này sang người khác

Vi khuẩn kháng kháng sinh có thể lây từ người này sang người khác

Lạm dụng kháng sinh có thể sinh ra vi khuẩn kháng kháng sinh trên da, trong hệ tiêu hóa… và có thể lây sang người khác.

Đây là lời khẳng định của PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng – Nguyên Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai khi nhắc tới việc sử dụng kháng sinh.

Khi dùng kháng sinh trở thành trào lưu

Một đứa trẻ bị viêm phổi do các vi khuẩn thông thường không kháng thuốc thì chữa rất dễ. Không cần những kháng sinh đắt tiền, mà chỉ cần kháng sinh cũ và chỉ 5-7 ngày là khỏi. Thế nhưng, cũng với trường hợp bệnh nhi như vậy mà mắc phải vi khuẩn kháng thuốc, thì chữa khó hơn. Phải dùng những thuốc kháng sinh mới hơn, đắt tiền hơn, cao cấp hơn… Không những chỉ dùng một kháng sinh, mà có thể phải dùng 2-3 loại và thời gian dùng phải dài hơn… Những điều này đồng nghĩa là chi phí mà người bệnh phải chịu bị đẩy lên đắt hơn, thời gian nằm viện điều trị dài ngày hơn.

vi khuan khang khang sinh co the lay tu nguoi nay sang nguoi khac hinh 1

PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng – Nguyên Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai. 

Đấy là những bệnh nhân may mắn, khi vi khuẩn bị tiêu diệt và cứu được người bệnh. Vì có những trường hợp không may, khi dùng nhiều loại thuốc rồi, thời gian điều trị dài hơn rồi mà vẫn không tiêu diệt được vi khuẩn. Đây chỉ là ví dụ đơn giản với bệnh viêm phổi, còn những bệnh nặng hơn như viêm màng não còn điều trị khó khăn hơn rất nhiều.

PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng – Nguyên Trưởng khoa Nhi, Bệnh viện Bạch Mai khuyến cáo, kháng sinh là loại thuốc đặc biệt, kháng sinh là “con dao hai lưỡi”… nếu dùng tốt, dùng đúng thì khỏi bệnh còn dùng sai thì thiệt hại không kể hết.

“Khi dùng kháng sinh phải hạn chế sử dụng, chúng ta chỉ sử dụng khi nào cần thiết. Bởi khi chúng ta mắc bệnh liên quan đến vi trùng, khi đó chúng ta dùng kháng sinh điều trị sẽ rất đơn giản, nhanh, không tốn kém và nhất là không hại đến sức khỏe nhiều”, PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng nhấn mạnh.

Thay đổi từ thầy thuốc

Tự làm hại mình mà không biết. Thiếu kiến thức nhưng vẫn sử dụng kháng sinh, dẫn đến tự sử dụng kháng sinh. Người bệnh phải thay đổi, người cung cấp thuốc, dược sĩ cũng phải thay đổi. Với thầy thuốc, tránh việc kê đơn lạm dụng kháng sinh, để cho chắc chắn.

Lạm dụng kháng sinh là những trường hợp không cần dùng kháng sinh mà vẫn dùng. Tất cả các đối tượng đều lạm dụng. Đầu tiên phải nói đến bệnh nhân – đối tượng sử dụng, cứ ho hay sốt là uống kháng sinh. Nếu không đỡ mới đi khám thầy thuốc. Thứ hai là người bán thuốc, người bệnh chỉ cần nêu tình trạng bệnh là sẵn sàng bán thuốc cho và luôn có kèm theo kháng sinh. Thứ ba là thầy thuốc, khi gặp những trường hợp nhẹ chỉ là cảm cúm cũng đã kê kháng sinh.

“Cả ba đối tượng đều thi nhau lạm dụng kháng sinh. Kháng sinh hại cho người dùng và cho cả những người xung quanh dù không dùng kháng sinh. Một người lạm dụng kháng sinh, thì trong cơ thể sẽ sinh ra vi khuẩn kháng kháng sinh trên da, trong hệ tiêu hóa… khi sống chung trong một gia đình vi khuẩn có thể lây sang cho người khác”, PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng cho biết.

Theo ông, có nhiều nguyên nhân gây ra hiện tượng kháng kháng sinh. Nguyên nhân đầu tiên được gọi là kháng tự nhiên, có nghĩa là sau một thời gian, vi khuẩn sẽ tự kháng thuốc vì đấu tranh sinh tồn. Tuy nhiên, kháng kháng sinh tự nhiên vi khuẩn phải mất thời gian rất dài để có thể kháng thuốc.

Trong khi, kháng kháng sinh thu nhận lại diễn ra rất nhanh. Với nguyên nhân quan trọng là do chúng ta sử dụng kháng sinh ngày một nhiều, không những chỉ sử dụng trong y tế mà còn sử dụng trong chăn nuôi. Ngoài ngành y tế cũng dùng và lượng kháng sinh sử dụng đang tăng lên gấp bội.

“Nguyên nhân sử dụng kháng sinh nhiều như thế có thể là do chúng ta đối mặt với ngày càng nhiều bệnh hơn, ngày càng nhiều bệnh nhân hơn, số bệnh nhân cần điều trị bằng kháng sinh cũng ngày càng nhiều lên… Một mặt quan trọng nữa là lạm dụng kháng sinh. Nó đẩy việc sử dụng kháng sinh lên rất nhiều”, ông Dũng nói.

Kháng sinh ngoài ngành y tế

Những người làm nông nghiệp cũng phải tư duy lại. Thực tế, gia súc và gia cầm khi được chăn nuôi bằng kháng sinh cũng sẽ tồn dư kháng sinh trong thịt. Khi người tiêu dùng sử dụng thì sẽ sử dụng kháng sinh từ những thực phẩm này.

Bà Nguyễn Thu Thủy – Phó Cục trưởng Cục Thú y cho biết: “Việc sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi nhằm kích thích tăng trưởng. Việc này dẫn đến kháng kháng sinh trong chăn nuôi. Bên cạnh đó, người chăn nuôi cũng như của các nhà chuyên môn, cơ sở hiện nay trong việc giám sát, sử dụng kháng sinh cũng như giám sát kháng kháng sinh trong nông nghiệp, trong nuôi trồng thủy sản còn hạn chế”.

vi khuan khang khang sinh co the lay tu nguoi nay sang nguoi khac hinh 3

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến. 

Hiện Việt Nam là nước đi đầu trong khu vực Đông Nam Á thể hiện cam kết đa ngành và hành động ở tất cả các cấp chính quyền nhằm chống tình trạng kháng thuốc. Với vai trò là cơ quan chủ trì, Bộ Y tế đã có những hành động để phối hợp và kết hợp hệ thống giám sát và kiểm soát việc sử dụng kháng sinh để bảo vệ sức khỏe con người và động vật.

“Đối với các hiệu thuốc, phải nghiêm túc thực hiện bán thuốc theo đơn. Chúng ta phải sử dụng các loại thuốc có chất lượng tốt. Việt Nam cũng là một trong những nước đang đối mặt với tình trạng kháng thuốc khá rõ nét”, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến nhấn mạnh./.

Hoàng Lê/ vov.vn

Lợi ích tuyệt vời của quả đậu rồng đối với sức khỏe

Lợi ích tuyệt vời của quả đậu rồng đối với sức khỏe
Đậu rồng giàu chất dinh dưỡng và tất cả các bộ phận của cây đều có thể ăn được. Lá có thể được ăn như rau bina, hoa được trộn làm món salad, củ có thể được ăn sống hoặc nấu chín, hạt đậu rồng được sử dụng theo cách tương tự như đậu tương.

Đậu rồng có tên khoa học tetragonolobus – còn được gọi là đậu Goa, đậu bốn cạnh, đậu bốn góc, đậu Manila, đậu Mauritius – là một loại cây họ đậu nhiệt đới New Guinea.

Đậu rồng phát triển nhiều ở các nước vùng xích đạo nóng ẩm, từ Philippines, Indonesia đến Ấn Độ, Miến Điện, Malaysia, Thái Lan và Sri Lanka. Nó được trồng rộng rãi ở khu vực Đông Nam Á và Papua New Guinea do khả năng chịu bệnh tốt. Đậu rồng giàu chất dinh dưỡng và tất cả các bộ phận của cây đều có thể ăn được.

Lá Đậu rồng có thể được ăn như rau bina, hoa được trộn làm món salad, củ có thể được ăn sống hoặc nấu chín, hạt đậu rồng được sử dụng theo cách tương tự như đậu tương.

Lá đậu rồng, được sử dụng như rau xanh, là một nguồn tuyệt vời của chất xơ, vitamin C, vitamin A và khoáng chất. 100 g lá tươi cung cấp 45 mg vitamin C (75% giá trị khuyến cáo hàng ngày) và 8090 IU vitamin A (270% RDA).

loi-ich-tuyet-voi-cua-qua-dau-rong-doi-voi-suc-khoe-1

Quả đậu rồng cung cấp đủ lượng khoáng chất cho nhu cầu cơ thể: sắt, đồng, mangan, canxi, phốt pho, magiê

Quả đậu rồng non là một trong những loại rau có lượng calo rất thấp; 100g đậu rồng chỉ chứa 49 calo. Hạt đậu rồng có 409 calo mỗi 100g và chứa hàm lượng protein tương đối cao (tương đương với protein có trong đậu nành). Cũng giống như các loại đậu khác, lượng Thiamin, pyridoxine (vitamin B-6), niacin, riboflavin và một số các vitamin B phức trong đậu rồng cũng rất nhiều.

Ngoài ra, đậu rồng cung cấp đủ lượng khoáng chất cho nhu cầu cơ thể. Một số khoáng chất quan trọng như sắt, đồng, mangan, canxi, phốt pho, magiê được tập trung trong đó. Mangan khi vào bên trong cơ thể con người là yếu tố giúp cho các enzym chống oxy hóa phát triển mạnh mẽ.

Đậu rồng lúc tươi là một trong những nguồn tốt nhất của folate. 100 g đậu rồng cung cấp 66 mg hoặc 16,5% nhu cầu folate hàng ngày. Folate, cùng với vitamin B-12, là một trong những thành phần thiết yếu giúp tổng hợp DNA và phân chia tế bào. Cung cấp folate đầy đủ trong chế độ ăn uống trong thời gian thụ thai và trong khi mang thai có thể giúp ngăn ngừa khuyết tật ống thần kinh ở trẻ sơ sinh.

loi-ich-tuyet-voi-cua-qua-dau-rong-doi-voi-suc-khoe-2

Cây đậu rồng

Củ của cây đậu rồng là nguồn tinh bột, protein và vitamin B-complex dồi dào. 100g củ cung cấp 11,6g protein so với 2,02g/ 100g và 1,36g/ 100g hàm lượng protein trong khoai và sắn.

Đậu rồng tươi chứa một số lượng khá cao vitamin C. 100g đậu rồng cung cấp 18,3mg hoặc 31% vitamin C – là một chất chống oxy hóa tan mạnh trong nước và khi được cung cấp đầy đủ trong chế độ ăn uống, nó giúp xây dựng khả năng miễn dịch chống lại các bệnh nhiễm vào cơ thể, duy trì độ đàn hồi của mạch máu và ngăn ngừa bệnh ung thư.

Mai Hương – Học Viện Quân Y

(Theo Nikkie Garcia)

Những loại trà tốt cho sức khỏe trong mùa đông

Những loại trà tốt cho sức khỏe trong mùa đông

Trà là thức uống không thể thiếu trong mùa đông. Chỉ cần một tách trà nóng có thể làm cơ thể ấm tâm trí được tỉnh táo, xua tan cái lạnh mùa đông. Không chỉ vậy, uống trà còn tốt cho sức khỏe…

Sau đây là những loại trà tốt cho sức khỏe trong mùa đông…

Trà xanh

Theo các nhà khoa học, trong lá trà chứa hơn 300 loại thành phần hóa học, trong đó TP (phenolic với Catechin là chính) có thể chống oxy hóa, kháng khuẩn, chống béo phì, hấp thụ Tanin và bài thải sắc tố đen trong cơ thể, giúp da trắng mịn.

Trà xanh rất tốt cho sức khỏe

Trong một nghiên cứu đăng trên Experimental Cell Research chứng minh rằng, trong trà xanh có tác dụng ức chế quá trình chuyển hóa tế bào ung thư vú. Còn trên Cancer Prevention Research, người ta chứng minh EGCG trong lá trà có thể kìm hãm sự phát triển của các tế bào ung thư phổi.

Mỗi buổi sáng mùa đông, chỉ cần một tách trà xanh nóng cũng đã làm cơ thể bạn ấm lên để bắt đầu một ngày mới.

Trà sả

Trong mùa đông, trà sả có công dụng chữa cảm lạnh và ho bằng cách kết hợp lá sả, mật ong, hạt tiêu, quế, nước cốt chanh, lá bạc hà. Loại trà sả hỗn hợp này giúp thông mũi họng, giữ ấm toàn thân và dịu cơn ho trong mùa lạnh.

Trà sả có tác dụng chống viêm

Ngoài ra, trà sả có tính kháng nấm, kháng khuẩn, chống ký sinh trùng, đặc biệt chống viêm. Khi bạn gặp phải những triệu chứng về đường tiêu hóa như đầy hơi, khó tiêu,… chỉ cần dùng 30-50g sả, sắc lấy nước uống 2-3 lần trong ngày để chữa trị các triệu chứng trên.

Trà bạc hà

Lá bạc hà chứa vitamin B, canxi, kali giúp tăng cường hệ miễn dịch trong cơ thể. Vì vậy, trà bạc hà có thể giúp chống lại một số bệnh thông thường mùa đông như cảm lạnh, ho khan, cảm cúm,… Một ly trà bạc hà hàng ngày sẽ giúp bạn tăng cường hệ tiêu hóa, làm giảm các cơn co thắt đường hô hấp và đường tiêu hóa.

Trà bạc hà giúp tăng cường hệ miễn dịch cơ thể

Một điều bạn cần phải lưu ý là trà bạc hà không thích hợp dùng cho trẻ nhỏ, hoặc bệnh nhân tiểu đường, cao huyết áp.

Trà hoa cúc

Dùng trà hoa cúc thường xuyên sẽ giúp cơ thể giảm căng thẳng, tâm trạng thư thái, ngủ sâu giấc. Với những bệnh nhân tiểu đường, trà hoa cúc giúp kiểm soát bệnh và giảm đường huyết tốt hơn ở những bệnh nhân không uống.

Một tách trà hoa cúc trắng sẽ giúp bạn chữa phong nhiệt cảm mạo, đau đầu, tăng huyết áp, chóng mặt,… Trà hoa cúc vàng cũng thường dùng trong phòng cảm lạnh, cúm, viêm mủ da, hoa mắt, tăng huyết áp,…

Trà hoa cúc có tác dụng thanh nhiệt

Vì hoa cúc có tính mát, tác dụng thanh nhiệt nên những người tỳ vị hư hàn, hay lạnh tay chân, lạnh bụng, huyết áp thấp thì không nên dùng trà hoa cúc.

Trà gừng

Vào mùa đông, trà gừng sẽ giúp bạn giữ ấm cơ thể, ngăn ngừa cảm lạnh. Uống đều đặn 2-4 tách trà gừng sẽ có tác dụng thông xoang, long đờm, hạn chế chất nhờn gây tắc nghẽn đường thở. Gừng có tác dụng kháng vi rút và kháng khuẩn nên có lợi cho đường hô hấp.

Bên cạnh đó, trà gừng tốt cho sức khỏe dạ dày, khắc phục những sự cố liên quan đến đầy hơi, tiêu hóa kém, thậm chí cả ung thư ruột.

Trà gừng chứa nhiều hợp chất có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư

Qua nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học, gừng có nhiều hợp chất pararadol và gingerol, có tác dụng tiêu diệt tế bào ung thư, hạn chế khối u di căn sang các tế bào mô và bộ phân khác

Tuy nhiên nếu bạn lạm dụng cũng không hề tốt cho sức khỏe, sẽ gây chướng bụng, đầy hơi. Ngoài ra, gừng còn gây loãng máu. Vì vậy bạn bên cân nhắc lượng trà gừng tiêu thụ trong một ngày.

Hồng trà

Loại thức uống này tính ngọt nhẹ, mát, có thể dưỡng dương, tốt cho dạ dày. Do chứa một lượng protein nhất định, có thể có lợi cho cơ thể, uống hồng trà trong mùa đông, sinh nhiệt, ấm bụng, tăng cường khả năng chịu rét cho cơ thể.

Trà hoa cúc mật ong

Hoa cúc có thể làm mát gan, giảm nhiệt nhưng mang tính hàn vì vậy, những người hay bị lạnh bụng, thiếu máu không nên dùng nhiều.

Trà đen gừng

Gừng tươi xay lấy nước pha cùng trà đen, đường đỏ, tránh cảm gió, bổ máu. Trà đen với gừng có thể giúp bạn tránh cảm gió hoặc vừa bị cảm nhẹ. Tuy nhiên, món này không thích hợp trong trường hợp bạn đã bị cảm nặng.

Trà La Hán

Quả La Hán có tác dụng tiêu viêm, trị ho, mát gan, bổ phổi, chống khát. Bạn uống quả La Hán trong mùa hè còn có thể trị say nắng, giảm nhiệt.

Mùa đông, bạn dùng món này sẽ làm mềm và giữ ẩm cổ họng. Hơn nữa, vì nhiệt lượng thấp nên trà La Hán rất thích hợp cho những bệnh nhân bị tiểu đường hay người đang trong thời kỳ giảm béo.

Theo T.A tổng hợp/ Infonet.vn

Phòng tránh ngộ độc rượu trong dịp Tết

Phòng tránh ngộ độc rượu trong dịp Tết

Đã từ lâu, rượu, bia được coi là đồ uống không thể thiếu trong mỗi dịp liên hoan, cưới hỏi,… đặc biệt là khi Tết đến, xuân về. Trong những ngày này lượng rượu, bia tiêu thụ nhiều hơn, cùng với đó là số người nhập viện do say rượu, bia, thậm chí bị ngộ độc rượu cũng tăng cao hơn.

Nguyên nhân của ngộ độc rượu là do lạm dụng rượu, uống rượu vượt quá mức chấp nhận của cơ thể, do sử dụng rượu không đảm bảo an toàn thực phẩm như: Uống phải rượu pha cồn công nghiệp methanol hoặc ethylene glycol; do uống rượu ngâm với thảo mộc (như lá, rễ, hạt cây) hoặc ngâm với động vật (như mật, phủ tạng…). Trong 1 “đơn vị rượu” thường có từ 8-14 g rượu nguyên chất chứa trong dung dịch đó. Mỗi đơn vị tương đương: 1 lon bia 270-330 ml 2-12 độ hoặc 1 chén rượu vang 125 ml 9-18 độ hay 1 chén rượu mạnh 40 ml 40 độ. Nam giới uống quá 3 đơn vị rượu/ ngày; nữ giới uống quá 2 đơn vị rượu 1 ngày được coi là lạm dụng rượu.

Uống rượu lâu ngày dẫn đến nghiện rượu, sút cân, chán ăn, ỉa chảy do tổn thương gan và ruột; da, niêm mạc nhợt nhạt do thiếu máu; thoái hóa gan, xơ gan, có thể ung thư gan; nhồi máu cơ tim, mất trí nhớ, run, rối loạn tinh thần…

Phụ nữ mang thai uống nhiều rượu có thể gây sinh non, ảnh hưởng đến phát triển thể chất, tinh thần, trí tuệ của đứa trẻ, gây ngộ độc cho thai nhi.

Để phòng ngừa ngộ độc rượu bia trong dịp Tết, cần thực hiện các nguyên tắc sau:

1. Không uống cồn công nghiệp và rượu có hàm lượng Methanol > 0,1% vì có thể gây mù mắt và tử vong.

2. Không uống rượu nồng độ từ 30 độ trở lên vượt quá 30ml/ người/ ngày.

3. Không uống rượu ngâm với lá, rễ cây, phủ tạng động vật không rõ độc tính hay rượu ngâm theo kinh nghiệm cá nhân.

4. Không uống rượu khi: Không biết đó là rượu gì, rượu không có nguồn gốc, rượu không công bố tiêu chuẩn chất lượng, khi đang đói, mệt hoặc đang uống thuốc điều trị.

5. Trẻ em dưới 16 tuổi không được uống rượu bia.

VFA

Phòng ngừa và xử trí ngộ độc nấm

Phòng ngừa và xử trí ngộ độc nấm

Mùa xuân, thời tiết ấm, ẩm rất thuận lợi cho các loài nấm phát triển và đây cũng là thời điểm thường xảy ra các vụ ngộ độc nấm. So với các loại ngộ độc khác thì ngộ độc nấm xảy ra ít hơn về số ca, nhưng tỷ lệ tử vong lại rất cao.

Trên thế giới hiện nay có trên 10.000 loài nấm đã được xác định danh tính, trong đó có hàng trăm loại nấm độc. Những loại nấm có đủ mũ, phiến, cuống, vòng và bao gốc hầu hết là nấm độc.

Xử trí

–  Ngay khi có triệu chứng ngộ độc nấm phải gây nôn, rồi chuyển đi cấp cứu ở trung tâm y tế gần nhất để chữa trị kịp thời: Rửa dạ dày, cho uống than hoạt tính sớm.

– Đưa cả những người cùng ăn nấm dù chưa có biểu hiện triệu chứng đến cơ sở y tế.

–  Mang mẫu nấm còn lại hoặc thức ăn chế biến từ nấm còn lại mang tới cơ sở y tế để sơ bộ xác định loài nấm.

Dự phòng ngộ độc nấm

– Xác định thời gian từ lúc ăn nấm đến lúc có triệu chứng ngộ độc nấm: Nếu dưới 6 tiếng: Điều trị ở xã, huyện; nếu hơn 6 tiếng gửi bệnh nhân lên bệnh viện tỉnh nơi có điều kiện lọc máu.

– Chỉ sử dụng khi biết chắc chắn nấm ăn được.

– Tuyệt đối không được ăn nấm lạ, nấm hoang dại kể cả nấm mầu trắng, nấm có đủ các phần của thể quả (mũ, phiến nấm, cuống, vòng cuống và bao gốc) đặc biệt là những loại nấm có đầy đủ vòng cuống, bao gốc thường là nấm độc.

– Không ăn thử nấm, dứt khoát loại bỏ nấm khi còn nghi ngờ.

– Không hái nấm non chưa xòe mũ vì chưa bộc lộ hết đặc điểm cấu tạo khó nhận dạng nấm độc.

– Nấm tươi ăn được mới hái nên nấu ăn ngay, nếu để ôi, dập nát có thể hình thành độc tố mới gây ngộ độc.

– Không ăn nấm đã bị thối rữa, ôi thiu.

VFA

Thông tin dành cho các bệnh nhân bị đục thủy tinh thể

Thông tin dành cho các bệnh nhân bị đục thủy tinh thể

Thông tin này dành cho các bệnh nhân bị đục thủy tinh thể và gia đình hiểu rõ hơn về bệnh đục thủy tinh thể, gồm các phần: triệu chứng, chẩn đoán và điều trị.

Đục thủy tinh thể hay còn gọi là cườm khô, cườm đá: là mờ đục thủy tinh thể trong mắt, gây ra những rối loạn thị giác. Nguyên nhân thường gặp nhất là do lão hóa. Trong giai đoạn đầu, người bệnh có thể đeo kính hỗ trợ, với nguồn chiếu sáng tốt để làm giảm những rối loạn thị giác do đục thủy tinh thể.  Nhưng nếu đục thủy tinh thể nhiều, các biện pháp trên không còn tác dụng, bệnh nhân cần được phẫu thuật để cải thiện thị lực. Hiện nay, với trang thiêt bị hiện đại, phẫu thuật đục thủy tinh thể rất an toàn và hiệu quả. Tuy nhiên, cũng đến lúc phải phẫu thuật để cải thiện thị lực. Hiện nay phẫu thuật thủy tinh thể an toàn và rất hiệu quả.

Thủy tinh thể là gì?

Thủy tinh thể là cấu trúc trong mắt có chức năng như một thấu kính giúp hội tụ ánh sáng trên võng mạc. Võng mạc là lớp nhận cảm ánh sáng và gởi tín hiệu thị giác lên não. Ở mắt bình thường, ánh sáng đi xuyên qua thủy tinh thể và hội tụ trên võng mạc. Thủy tinh thể phải trong suốt để tạo ảnh rõ nét.

Đục thủy tinh thể là gì?

Thủy tinh thể được cấu tạo chủ yếu là nước và protein. Các protein được sắp xếp trật tự để cho ánh sáng xuyên qua và hội tụ trên võng mạc. Một số trường hợp protein tập trung thành đám, làm ánh sáng đi qua bị tán xạ, tạo ra những vùng mờ đục trong thủy tinh thể cản ánh sáng đến võng mạc và giảm thị lực. Tình trạng này gọi là đục thủy tinh thể.

Đục thủy tinh thể ở giai đoạn đầu có thể không gây triệu chứng gì vì chỉ một phần nhỏ của thủy tinh thể bị đục. Tuy nhiên dần dần thủy tinh thể đục ngày càng nhiều và bệnh nhân nhìn mờ hơn vì giảm ánh sáng đến võng mạc. Dù nhiều người bị đục thủy tinh thể cả hai mắt nhưng bệnh không lây từ mắt này qua mắt kia.

Người ta vẫn đang nghiên cứu thêm về đục thủy tinh thể nhưng nguyên nhân đục vẫn chưa rõ. Các nhà khoa học cho rằng các yếu tố thuận lợi dẫn đến bệnh đục thủy tinh thể có thể là hút thuốc, tiểu đường (còn gọi là đái tháo đường), môi trường sống quá nhiều nắng.

Tình hình đục thủy tinh thể tại Việt Nam:

Đục thủy tinh thể là một trong những nguyên nhân gây mù chiếm vị trí hàng đầu trên thế giới cũng như tại Việt Nam nếu không được phẫu thuật sẽ dẫn đến mù hoàn toàn làm tăng gánh nặng cho bản thân, gia đình và xã hội. Theo thống kê của Bệnh viện Mắt Trung ương năm 2007 có khoảng 251.700 người mù do đục thủy tinh thể  TTT. 373.000 mù 2 mắt do đục thuỷ tinh thể có thị lực dưới 1/10. Hiện có hơn 700.000 mắt cần phẫu thuật. Số người mắc bệnh mới hàng năm khoảng 85.000 ca 2 mắt (1% dân số) và 85.000 ca 1 mắt. Năm 2009 cả nước đã phẫu thuật 132.419 ca đục thủy tinh thể lĩnh vực y tế công, trong đó phẫu thuật phaco 39.537 ca (29.9%).

Triệu chứng bệnh như thế nào?

Những triệu chứng thường gặp nhất là:

– Nhìn mờ

– Cảm giác chói mắt khi nhìn ánh sáng: ban đêm thấy đèn pha quá sáng, chói mắt khi nhìn đèn hoặc ánh sáng mặt trời mạnh, hoặc thấy quầng sáng quanh đèn.

– Màu có vẻ nhạt hơn.

– Ban đêm thị giác kém hơn.

– Nhìn một hình thành hai hoặc nhiều hình.

– Độ kính đang đeo thay đổi thường xuyên.

Những triệu chứng này có thể cũng là dấu hiệu của nhiều bệnh lý khác tại mắt.  Nếu bệnh nhân có những triệu chứng này thì nên đến bác sĩ mắt để được khám và tư vấn.

Khi đục thủy tinh thể ít, có thể người bệnh không nhận ra thị lực có thay đổi hay không. Nhưng đục tiến triển từ từ thì thị lực kém dần. Một số người có đục thủy tinh thể nhận thấy rằng thị lực nhìn gần/ đọc sách trở nên tốt hơn, nhưng chỉ là tạm thời. Thị lực sẽ giảm khi đục thủy tinh thể phát triển  nhiều hơn.

Đục thủy tinh thể có các loại nào?

– Đục thủy tinh thể do lão hóa: phần lớn các đục thủy tinh thể do tuổi già.

– Đục thủy tinh thể bẩm sinh

– Đục thủy tinh thể thứ phát: phát triển ở những người có một số bệnh, ví dụ tiểu đường. Đục thủy tinh thể có thể do dùng thuốc steroid kéo dài.

– Đục thủy tinh thể chấn thương.

Làm thế nào để phát hiện đục thủy tinh thể?

Để phát hiện đục thủy tinh thể cần phải khám mắt toàn diện, gồm các bước sau:

– Đo thị lực bằng bảng thị lực.

– Khám mắt với đồng tử dãn: dùng thuốc nhỏ để dãn đồng tử cho phép bác sĩ khám kỹ thủy tinh thể và võng mạc, đồng thời kiểm tra mắt có bệnh khác không.

– Đo nhãn áp: đo thường qui để kiểm tra áp lực trong mắt, nếu nhãn áp tăng có thể là dấu hiệu bệnh glô-côm (cườm nước).

Và một số xét nghiệm khác nếu cần để khảo sát cấu trúc và bệnh của mắt có thể đi kèm.

Điều trị đục thủy tinh thể như thế nào?

Đối với đục thủy tinh thể giai đoạn sớm, có thể cho đeo kính, dùng kính lúp hoặc chiếu sáng tốt khi làm việc. Nếu những biện pháp này không có tác dụng thì chỉ có phẫu thuật là cách điều trị hiệu quả nhất. Phẫu thuật sẽ lấy thủy tinh thể bị đục và đặt một thấu kính để thay thế thủy tinh thể.

Phẫu thuật được chỉ định khi đục thủy tinh thể gây giảm thị lực cản trở sinh hoạt hàng ngày, chẳng hạn như lái xe, đọc sách hoặc xem ti vi. Bệnh nhân và bác sĩ  cùng quyết định thời điểm phẫu thuật. Trong đa số trường hợp có thể trì hoãn phẫu thuật cho đến khi tư tưởng đã sẵn sàng. Nếu bạn bị đục thủy tinh thể cả hai mắt, bác sĩ cũng không phẫu thuật hai mắt cùng lúc mà mỗi mắt sẽ được phẫu thuật ở hai thời điểm khác nhau. Nếu hai mắt bị ảnh hưởng nhiều thì hai phẫu thuật có thể được tiến hành cách nhau 2 – 4 tuần.

Một số trường hợp có thể lấy thủy tinh thể khi chưa gây giảm thị lực nhưng lại cản trở việc khám và điều trị các bệnh mắt khác, chẳng hạn bệnh thoái hóa hoàng điểm tuổi già hoặc bệnh võng mạc tiểu đường.

Phẫu thuật lấy thủy tinh thể có hiệu quả không?

Hiện nay phẫu thuật lấy thủy tinh thể là một trong những phẫu thuật phổ biến nhất của chuyên khoa Mắt. Đây cũng là một trong những phẫu thuật an toàn nhất và cho kết quả rất tốt. Với kỹ thuật tiên tiến và trang thiết bị hiện đại như tại Bệnh viện Mắt TP.Hồ Chí Minh, 90% trường hợp sau phẫu thuật lấy thủy tinh thể cho thị lực tốt.

Lấy thủy tinh thể được thực hiện như thế nào?

Chủ yếu có hai cách lấy thủy tinh thể. Bác sĩ sẽ giải thích cụ thể hai cách phẫu thuật khác nhau như thế nào và giúp bạn quyết định cách tốt nhất:

Phương pháp nhũ tương hóa thủy tinh thể hay phaco: Tạo một đường rạch nhỏ ở một bên giác mạc (giác mạc là cái vòm trong suốt che phủ phía trước tròng đen). Sau đó đưa một thiết bị nhỏ vào mắt. Thiết bị này phát ra sóng siêu âm làm thủy tinh thể mềm và phân thành những mảnh nhỏ, do đó có thể hút ra. Hiện nay hầu hết phẫu thuật lấy thủy tinh thể được thực hiện bằng phương pháp phaco, còn gọi là phẫu thuật đường rạch nhỏ.

Phương pháp lấy thủy tinh thể ngoài bao: Tạo một đường rạch dài hơn ở một phía giác mạc và lấy phần nhân cứng thủy tinh thể ra. Sau đó hút phần còn sót lại.

Sau khi lấy thủy tinh thể, bác sĩ sẽ đặt một kính nội nhãn thay vào vị trí của thủy tinh thể. Kính nội nhãn là một thấu kính nhân tạo trong suốt, sẽ là một phần của mắt bạn suốt đời nhưng bạn không cần phải chăm sóc cho nó. Thị lực của bạn sẽ cải thiện tốt với kính nội nhãn vì ánh sáng xuyên qua nó đến võng mạc. Nhưng bạn cũng không cảm thấy hoặc nhìn thấy thấu kính mới này.

Một số trường hợp không thể đặt kính nội nhãn vì đang có bệnh mắt khác hoặc có tai biến khi phẫu thuật. Trường hợp này có thể đeo kính sát tròng hoặc đeo kính gọng sau mổ.

Các loại kính nội nhãn (thủy tinh thể nhân tạo):

Hiện nay có nhiều loại kính nội nhãn (thủy tinh thể nhân tạo) đặt vào trong mắt sau phẫu thuật lấy thuỷ tinh thể như

– Kính nội nhãn đơn tiêu (giúp mắt nhìn rõ một cự ly nhất định)

– Kính nội nhãn đa tiêu (giúp mắt nhìn rõ cả cự ly xa và gần)

– Kính nội nhãn toric (giúp điều chỉnh loạn thị của mắt bệnh nhân).

Tuỳ theo tình trạng mắt, tính chất nghề nghiệp, khả năng tài chính của bệnh nhân, Bác sỹ sẽ tư vấn để đặt kính nội nhãn thích hợp giúp hồi phục thị lực cho người bệnh một cách tốt nhất.

Cần làm gì trước phẫu thuật?

Trước phẫu thuật, bác sĩ sẽ làm một số xét nghiệm. Những xét nghiệm này bao gồm đo độ cong giác mạc, kích thước và hình dạng nhãn cầu để chọn loại kính nội nhãn thích hợp, xét nghiệm máu (người bệnh nhịn ăn sáng) và khám nội khoa để đảm bảo thể trạng người bệnh cho phép tiến hành phẫu thuật.

Chuyện gì xảy ra trong khi phẫu thuật?

Khi vào bệnh viện, bạn được nhỏ thuốc dãn đồng tử, thuốc rửa mắt.

Cuộc phẫu thuật kéo dài không quá 30 phút và hầu như không đau. Hầu hết bệnh nhân được vô cảm tại chỗ (nhỏ thuốc tê và / hoặc tiêm tê) để làm mất cảm giác đau. Do đó bệnh nhân vẫn tỉnh táo trong suốt quá trình phẫu thuật.

Sau phẫu thuật, bệnh nhân được băng mắt và nằm nghỉ. Bác sĩ khám và theo dõi có biến chứng sau phẫu thuật không. Hầu hết bệnh nhân có thể về ngay trong ngày. Bệnh nhân không tự lái xe được ngay nên cần có người thân đi kèm.

Chuyện gì xảy ra sau phẫu thuật?

Sau phẫu thuật bệnh nhân thường có cảm giác ngứa và xốn nhẹ một thời gian ngắn. Cũng có thể chảy nước mắt, mắt cảm thấy chói sáng và nhạy đau. Nếu mắt khó chịu, có thể dùng thuốc giảm đau mỗi 4-6 giờ. Sau 1-2 ngày mắt sẽ hết đau. Đa số trường hợp mắt sẽ lành trong khoảng 6 tuần.

Bác sĩ sẽ cho bệnh nhân biết lịch tái khám định kỳ sau phẫu thuật. Những ngày đầu sau phẫu thuật, bệnh nhân dùng thuốc nhỏ mắt hoặc thuốc uống để mắt lành và ổn định nhãn áp. Bạn nên hỏi bác sĩ về cách sử dụng thuốc như thế nào, khi nào uống, và có thể có tác dụng phụ gì. Bệnh nhân cũng cần đeo kính bảo vệ mắt. Tránh dụi hoặc ấn lên mắt.

Biến chứng sau phẫu thuật đục thủy tinh thể rất hiếm. Biến chứng có thể là nhiễm trùng, chảy máu, viêm (mắt đau, đỏ, sưng), giảm thị lực, hoặc thấy chớp sáng. Nếu phát hiện kịp thời thì có thể điều trị thành công những biến chứng này.

Không nên khom cúi hoặc xách vật nặng. Khom cúi sẽ làm tăng áp lực nội nhãn. Bạn có thể đi bộ, leo thang lầu và làm việc nhẹ trong nhà.

Khi nào thị lực trở về bình thường?

Bạn có thể nhanh chóng trở về hoạt động thường ngày nhưng mắt có thể còn mờ. Cần có thời gian để mắt điều chỉnh phù hợp với mắt còn lại, nhất là khi mắt đó cũng bị đục thủy tinh thể. Nếu có đặt kính nội nhãn thì bạn sẽ cảm thấy màu có vẻ sáng hoặc hơi xanh. Khi có ánh sáng mặt trời nhiều có thể bạn cũng cảm thấy mọi vật hơi có màu đỏ trong vài giờ. Nếu bạn thấy hiện tượng này có nghĩa là kính nội nhãn trong suốt. Những cảm giác này sẽ hết sau vài tháng. Khi mắt đã lành có thể bạn cũng cần đeo kính thêm.

Đục bao sau là gì?

Bao sau của thủy tinh thể được giữ lại trong quá trình phẫu thuật. Sau phẫu thuật, đôi khi phần bao sau bị đục và làm mắt mờ. Tình trạng này gọi là đục bao sau. Nó có thể xuất hiện sau phẫu thuật nhiều tháng hay nhiều năm.

Khác với đục thủy tinh thể, đục bao sau được điều trị bằng laser. Bác sĩ dùng tia laser tạo một lỗ nhỏ ở bao sau để cho ánh sáng xuyên qua. Thủ thuật này không gây đau và bệnh nhân không cần nằm viện.

Hiện đang có những nghiên cứu gì?

Các nhà khoa học đang nghiên cứu về sự phát triển và các yếu tố thúc đẩy đục thủy tinh thể. Người ta cũng xem xét liệu một số vitamin có thể phòng ngừa hoặc làm chậm đục thủy tinh thể hay không. Các nghiên cứu khác tìm những phương pháp mới để phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị đục thủy tinh thể. Ngoài ra các nhà khoa học đang khảo sát vai trò của gen trong sự phát triển đục thủy tinh thể.

Làm thế nào để bảo vệ thị giác?

Người trên 60 tuổi có nguy cơ mắc các bệnh mắt. Do đó nên khám mắt định kỳ mỗi  năm một lần để kiểm tra các bệnh thoái hóa hoàng điểm tuổi già, glô-côm (cườm nước), đục thủy tinh thể và các bệnh mắt khác./.

Nguồn: http://www.benhvienmat.com

Dưỡng chất từ vỏ trái cây

Dưỡng chất từ vỏ trái cây

Thường bị lột bỏ do khó ăn và thực tế cũng không ai ăn, song một số loại vỏ trái cây có hàm lượng dưỡng chất nhiều hơn cả phần ruột được dùng.

Vỏ chuối, vỏ táo đều chứa nhiều dưỡng chất

Chuối. Theo thông tin trên trang Daily Mail, vỏ chuối chứa lutein – chất chống ô xy hóa giúp mắt sáng khỏe. Không chỉ vậy, vỏ chuối còn chứa lượng chất xơ, ka li và cả chất làm giảm trầm cảm tryptophan. Chưa dừng lại ở đó, vỏ chuối còn có tác dụng làm đẹp rất hiệu quả. Cụ thể, vỏ chuối có thể làm trắng răng bằng cách chà xát lên răng; làm giảm quầng thâm ở bầu mắt bằng cách đắp vỏ chuối lên chỗ thâm khoảng 5 – 10 phút.

Cam. Vỏ cam chứa lượng vitamin C cao gấp 2 lần so với ruột cam. Ngoài ra, vỏ cam cũng chứa nhiều riboflavin, can xi, ma giê, ka li, đặc biệt là chất flavonoid có tác dụng chống ung thư và ngừa viêm. Bên cạnh đó, vỏ cam còn có khả năng giải cảm, trị viêm họng, các chứng ho, trị nấm móng, viêm tuyến sữa, hôi miệng, trị gàu, các chứng khó tiêu hóa, say tàu xe và giúp ngủ ngon.

Muốn tận dụng những lợi ích tuyệt vời của vỏ cam, sau khi rửa sạch, chọn lấy vài miếng, xắt nhuyễn và trộn với các loại salad để làm tăng hương vị món ăn.

Táo. Nếu ăn táo mà gọt vỏ bỏ đi, bạn đã vô tình làm mất 1/3 lượng dưỡng chất có trong táo. Vỏ táo là nguồn phong phú chất xơ, vitamin K, chất chống ô xy hóa quercetin giúp chống lại các tổn thương mô não. Ngoài ra, vỏ táo còn chứa nhiều chất dinh dưỡng có các thành phần có thể ngăn ngừa ung thư vú, ung thư phổi, ung thư ruột kết. Để an toàn, trước khi ăn cả vỏ, nên ngâm táo với nước muối khoảng 15 phút.

Dưa chuột. Trong vỏ của dưa chuột có chứa phần lớn các chất chống ô xy hóa, vitamin K, chất xơ không hòa tan và ka li. Muốn không làm mất các dưỡng chất, không nên gọt bỏ đi mà hãy ngâm dưa chuột với nước muối và giữ nguyên vỏ khi dùng.

Cà tím. Vỏ cà tím chứa nasunin, một chất ô xy hóa giúp chống lại các tế bào ung thư, và a xít chlorogenic giúp giảm viêm, tăng sự hấp thu glucose. Vì vậy, đừng nên gọt vỏ khi chế biến cà tím, chỉ cần rửa sạch cà tím với nước muối là có thể đảm bảo an toàn.

Nho. Nhiều bằng chứng khoa học đã chỉ ra, vỏ nho có chứa resveratrol – một chất chống ô xy hóa có thể giúp ngăn ngừa bệnh tim bằng cách giảm huyết áp cao và giảm nguy cơ huyết khối. Resveratrol cũng có thể giúp ngăn chặn sự lan truyền của các tế bào ung thư vú, dạ dày và ung thư ruột kết.

Xoài. Vỏ xoài chứa nhiều chất xơ, lại là nguồn phong phú vitamin A và E, đặc biệt là “kho” chứa chất chống ô xy hóa lutein và zeaxanthin, có thể giúp bảo vệ thị lực, giảm nguy cơ thoái hóa điểm vàng (nguyên nhân gây mù lòa ở người lớn).

Nguồn: vfa.gov.vn (Theo phununews.vn)

Thực phẩm giúp trị cảm lạnh hiệu quả

Thực phẩm giúp trị cảm lạnh hiệu quả

Cảm lạnh là dấu hiệu ban đầu báo hiệu hệ miễn dịch đang bị suy yếu. Vì vậy, để ngăn ngừa cảm lạnh cần phải tăng cường hệ miễn dịch của cơ thể.

Hiện có rất nhiều loại thực phẩm có sẵn trong bếp có thể giúp trị cảm lạnh hiệu quả.

Cá trích rất giàu axit béo omega 3 giúp làm giảm nguy cơ virus tấn công cơ thể. Ăn nhiều cá trích giúp giảm viêm cũng như tăng cường các tế bào miễn dịch trong cơ thể.

Tỏi không chỉ tiêu diệt virus mà còn giúp ngăn ngừa sự xâm nhập của các vi sinh vật khác. Hơn nữa, tỏi còn chứa các chất kháng khuẩn và chống viêm nên giúp trị cảm lạnh nặng rất tốt. Do đó nên ăn tỏi dạng thô thường xuyên để loại bỏ cảm lạnh và viêm họng.

Nghệ là gia vị quen thuộc, đồng thời cũng là một thực phẩm giúp trị cảm lạnh. Vì chứa một lượng lớn các chất chống viêm và chống oxy hóa nên nghệ giúp làm sạch các độc tố có hại khỏi cơ thể. Để chữa tình trạng cảm lạnh nghiêm trọng, hãy cho nghệ vào sữa nóng và uống trước khi đi ngủ nhé.

Các nghiên cứu khoa học cho biết, việc ăn nấm thường có mối liên hệ với lượng tế bào tăng lên trong cơ thể điều này giúp chống nhiễm trùng. Hơn nữa, nấm còn chứa selen nên làm tăng khả năng trong điều trị cảm nặng.

Các loại quả thuộc họ cam, quýt chứa lượng vitamin C cao nên giúp cho hệ miễn dịch được khỏe mạnh. Thêm vào đó, một hợp chất tự nhiên có trong vỏ của các loại quả họ cam, quýt còn giúp điều trị cảm cúm và các bệnh về viêm phế quản.

Khoai lang cũng là một trong những thực phẩm mà bạn nên bổ sung vào chế độ ăn để phòng ngừa cảm lạnh và ho. Khoai lang không chỉ giàu năng lượng mà còn chứa beta carotene giúp đẩy lùi virus một cách nhanh chóng.

http://www.vfa.gov.vn (Theo Ban Thời sự/ Vtv.vn)

Bảo quản thực phẩm trong tủ lạnh

Bảo quản thực phẩm trong tủ lạnh

Hải sản, thịt sống, gia cầm

Hải sản, thịt sống, thịt gia cầm nên được bảo quản trong phần lạnh nhất của tủ lạnh càng sớm càng tốt, điều này sẽ giúp ngăn chặn vi khuẩn sinh sôi, đảm bảo an toàn cho người dùng. Bên cạnh đó, cần đặt chúng trên một cái đĩa hoặc vật chứa, tránh cho nước từ thực phẩm nhỏ vào thức ăn khác. Cố gắng giữ riêng từng loại sản phẩm để tránh nhiễm chéo.

Hải sản, thịt sống có thể được bảo quản khỏi vi khuẩn và không bị ô nhiễm trong tối đa bốn ngày. Đối với thịt đã nấu chín, tổng cộng là 3 ngày.

Lưu ý với những loại thủy hải sản như cá, tôm, cua… cần được bảo quản lạnh ngay lập tức nếu bạn không chế biến ngay sau khi đem về. Và với các loại thịt khi sử dụng, bạn không nên rã đông ở nhiệt độ phòng mà nên có kế hoạch trước và để cho thịt, cá tan băng ở ngăn mát của tủ lạnh. Bạn có thể sử dụng các loại tủ có tính năng cấp đông mềm để bảo quản các loại thịt cá cần sử dụng trong thời gian ngắn. Khi để ở -1 độ C, thực phẩm sẽ có một lớp băng mỏng bên ngoài, không bị đông đá bên trong, nhờ đó người dùng có thể thái cắt dễ dàng mà không tốn nhiều công sức rã đông, giúp giảm thiểu đáng kể thời gian và quy trình chuẩn bị bữa ăn.

Hoa quả và rau

Bảo quản trái cây và rau quả một cách riêng biệt, nếu không rau sẽ hấp thụ khí ethylene thải ra từ một số loại trái cây và sẽ bị hư hỏng sớm. Tốt hơn là đặt rau và hoa quả trong các ngăn riêng biệt được cung cấp.

Bạn nên phân loại rau, để chúng trong túi đựng đã được chọc thủng vài lỗ để thoáng khí.Hãy để các loại rau củ nặng hơn như cà rốt, su hào, bắp cải… xuống dưới, sau đó để các loại rau ăn lá lên trên. Nếu thấy rau quá bẩn, bạn có thể rửa sạch, để khô nước (thấm bằng giấy ăn) trước khi cho vào tủ.

Đối với một số loại trái cây phát hành khí ethylene như chuối, bơ, đào, mơ… không cần phải được bảo quản trong tủ lạnh bởi chúng sẽ khiến thực phẩm gần đó chín hoặc nhanh hỏng hơn. Điều này cũng đúng với một số loại rau củ như khoai tây, hành tây, tỏi, cà chua, bí ngô… chúng sẽ để được lâu hơn nên lưu trữ ở nhiệt độ phòng.

Trứng, các sản phẩm từ sữa…

Trứng: Nhiều người có thói quen để trứng ở cánh cửa tủ lạnh. Trên thực tế, bạn nên để trứng ở các ngăn chính để có thể duy trì nhiệt độ ổn định, giúp trứng tươi lâu hơn. Ngoài ra, trứng nên được giữ trong các hộp đóng gói ban đầu để giảm nguy cơ bị vỡ. Về cơ bản, trứng là sản phẩm có thể kéo dài trong một thời gian dài (3 đến 5 tuần).

Sữa thanh trùng: Sữa thanh trùng có thời hạn ngắn và dễ hỏng hơn các loại sữa tươi đóng hộp khác. Do đó, loại thực phẩm này nên được bảo quản ở ngăn chính tủ lạnh thay vì ở cánh cửa, nơi nhiệt độ không ổn định. Đồng thời, bạn cũng cần cho ngay sữa vào tủ lạnh khi đem về từ siêu thị, cửa hàng, không để ở nhiệt độ phòng quá lâu.

Đối với các sản phẩm từ sữa như phô mai, sau khi sử dụng còn dư cần được bảo quản trong hộp kín, tránh lây nhiễm vi khuẩn từ thực phẩm khác.Còn với bơ thì để nguyên chúng trong hộp đựng ban đầu, và giữ trong cửa tủ lạnh. Tuy nhiên đừng bảo quản chúng lâu hơn 6 tháng.

Thức ăn thừa và các sản phẩm khô

Thức ăn thừa phải được giữ trong các hộp đựng chuyên dụng kín, làm như vậy để tránh mùi không lan ra các đồ ăn khác. Chúng ta không nên bảo quản quá hai ngày.

Không cần phải lưu trữ các sản phẩm khô trong tủ lạnh vì độ ẩm sẽ làm hỏng độ giòn của thực phẩm. Nếu có lưu trữ hãy để các sản phẩm khô vào bình chứa kín và khô ráo.

VFA