Chỉ định:
Sitagibes được chỉ định để cải thiện kiểm soát đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 (không phụ thuộc insulin):
Đơn trị liệu: Chỉ định cho các bệnh nhân kiểm soát đường huyết không đầy đủ bởi chế độ ăn uống và tập luyện, và cho các bệnh nhân không thích hợp để điều trị bằng metformin do chống chỉ định hoặc không dung nạp.
Liệu pháp kết hợp 2 thuốc:
Kết hợp với metformin khi phác đồ metformin kết hợp với chế độ ăn uống và tập luyện không kiểm soát đường huyết đầy đủ.
Kết hợp với sulphonylure khi phác đồ sulphonylure ở liều dung nạp tối đa kết hợp với chế độ ăn uống và tập luyện không kiểm soát đường huyết đầy đủ; và khi không thích hợp để điều trị bằng do chống chỉ định hoặc không dung nạp.
Kết hợp với chất đối kháng thụ thể gamma hoạt hóa bởi chất tăng sinh peroxisom (PPARγ), ví dụ thiazolidinedion, khi phác đồ chất đối kháng PPARγ kết hợp với chế độ ăn uống và tập luyện không kiểm soát đường huyết đầy đủ.
Liệu pháp kết hợp 3 thuốc:
Kết hợp với sulphonylure và metformin khi phác đồ 2 thuốc này kết hợp với chế độ ăn uống và tập luyện không kiểm soát đường huyết đầy đủ.
Kết hợp với chất đối kháng PPARγ và metformin khi không thích hợp dùng chất đối kháng PPARγ và khi phác đồ 2 thuốc này kết hợp với chế độ ăn uống và tập luyện không kiểm soát đường huyết đầy đủ.
Sitagibes cũng được chỉ định kết hợp với insulin (kèm theo hoặc không kèm theo metformin) khi chế độ ăn uống và tập luyện kết hợp với insulin liều ổn định không kiểm soát đường huyết đầy đủ.
Cách dùng, liều dùng:
Cách dùng: Thuốc dùng đường uống cùng hoặc không cùng với thức ăn.
Liều dùng:
Liều dùng 100 mg, ngày 1 lần. Khi kết hợp với metformin và/hoặc chất đối kháng PPARγ, liều dùng của metformin và/hoặc chất đối kháng PPARγ cần được duy trì.
Khi kết hợp với sulphonylure hoặc insulin, cần xem xét giảm liều sulphonylure hoặc insulin để giảm nguy cơ hạ đường huyết.
Nếu quên uống một liều, bệnh nhân cần uống ngay khi nhớ ra. Không nên uống hai liều trong cùng một ngày.
Đối tượng đặc biệt:
Suy thận:
Khi xem xét kết hợp sitagliptin với các thuốc chống đái tháo đường khác, cần kiểm tra tình trạng suy thận của bệnh nhân.
Với bệnh nhân suy thận nhẹ (60 ml/phút ≤ độ lọc cầu thận (GFR) < 90 ml/phút), không cần chỉnh liều.
Với bệnh nhân suy thận vừa (45 ml/phút ≤ GFR < 60 ml/phút), không cần chỉnh liều.
Với bệnh nhân suy thận vừa (30 ml/phút ≤ GFR < 45 ml/phút), giảm liều sitagliptin còn 50 mg, ngày 1 lần.
Với bệnh nhân suy thận nặng (15 ml/phút ≤ GFR < 30 ml/phút) hoặc bệnh thận giai đoạn cuối (GFR < 15 ml/phút), bao gồm chạy thận nhân tạo và thẩm phân màng bụng, giảm liều sitagliptin còn 25 mg, ngày 1 lần, có thể không cần quan tâm đến thời gian thẩm phân.
Điều chỉnh liều dựa vào chức năng thận, do đó cần đánh giá chức năng thận trước khi bắt đầu điều trị và định kỳ sau đó.
Suy gan:
Không cần chỉnh liều ở bệnh nhân suy gan nhẹ đến vừa. Sitagliptin chưa được nghiên cứu ở bệnh nhân suy gan nặng nên cần thận trọng ở đối tượng này.
Tuy nhiên, vì được thải trừ qua thận nên suy gan nặng sẽ không ảnh hưởng đến dược động học của sitagliptin.
Người cao tuổi:
Không cần chỉnh liều.
Trẻ em:
Sitagliptin không dùng cho trẻ em dưới 10 tuổi và thanh thiếu niên từ 10 đến 17 tuổi vì thiếu dữ liệu hiệu quả.
Một số lưu ý đặc biệt về xử lý thuốc trước và sau khi sử dụng thuốc:
Không có yêu cầu đặc biệt về xử lý thuốc sau khi sử dụng.
Chống chỉ định:
Quá mẫn với sitagliptin và bất kỳ thành phần nào của thuốc.
Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc:
Tổng quát:
Sitagliptin không dùng cho bệnh nhân đái tháo đường tuýp 1 hoặc điều trị đái tháo đường nhiễm toan ceton.
Viêm tụy cấp:
Dùng các chất ức chế DPP-4 có liên quan đến nguy cơ khởi phát viêm tụy cấp. Bệnh nhân cần được thông tin về các triệu chứng của viêm tụy cấp: Đau bụng nặng, kéo dài. Viêm tụy có thể được giải quyết khi ngừng sử dụng sitagliptin (có hoặc không có điều trị hỗ trợ), nhưng đã có các trường hợp rất hiếm gặp là viêm tụy hoại tử hoặc xuất huyết và/hoặc tử vong đã được báo cáo. Nếu nghi ngờ viêm tụy, cần ngưng sử dụng sitagliptin và các thuốc nghi ngờ khác; nếu xác nhận viêm tụy, sitagliptin không nên được sử dụng lại. Cần thận trọng ở những bệnh nhân có tiền sử viêm tụy.
Hạ đường huyết khi kết hợp với các thuốc chống đái tháo đường khác:
Trong các thử nghiệm lâm sàng của sitagliptin với phác đồ đơn trị liệu và với phác đồ kết hợp thuốc khác không gây hạ đường huyết (ví dụ metformin và/hoặc chất đối kháng PPARγ), tỉ lệ hạ đường huyết được báo cáo do dùng sitagliptin tương tự như dùng giả dược. Hạ được huyết được quan sát thấy khi sitagliptin kết hợp với insulin hoặc sulphonylure. Do đó, để giảm nguy cơ hạ đường huyết, cần xem xét giảm liều sulphonylure hoặc insulin.
Suy thận:
Sitagliptin bài tiết qua thận. Để đạt được nồng độ sitagliptin trong huyết tương tương tự như ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường, khuyến cáo dùng liều thấp hơn ở bệnh nhân có GFR < 45 ml/phút, bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối cần chạy thận nhân tạo hoặc thẩm phân màng bụng.
Các phản ứng quá mẫn:
Dữ liệu sau tiếp thị về các phản ứng quá mẫn ở bệnh nhân điều trị với sitagliptin đã được báo cáo, bao gồm sốc phản vệ, phù mạch và các tình trạng da bong vẩy như hội chứng Stevens-Johnson. Các phản ứng này thường xảy ra trong vòng 3 tháng đầu điều trị, một số trường hợp xảy ra ở liều đầu tiên. Nếu nghi ngờ phản ứng quá mẫn, cần ngừng sử dụng sitagliptin. Cần xem xét các nguyên nhân có thể dẫn đến tình trạng này, và sử dụng liệu pháp thay thế.
Bệnh bóng nước dạng pemphigus:
Đã có những báo cáo sau tiếp thị về bệnh bóng nước dạng pemphigus ở bệnh nhân dùng chất ức chế DPP-4 bao gồm sitagliptin. Nếu nghi ngờ bệnh bóng nước dạng pemphigus, nên ngừng điều trị với sitagliptin. Các triệu chứng chấm dứt khi ngừng sử dụng chất ức chế DPP-4; các triệu chứng tái phát ở một số bệnh nhân khi dùng lại cùng một chất ức chế DPP-4 khác.
Tính an toàn của thuốc:
Tác dụng phụ gây đau khớp có thể dẫn đến tình trạng bệnh nghiêm trọng hoặc tàn phế của các thuốc điều trị đái tháo đường type 2 nhóm ức chế Dipeptidyl peptidase-4 (DPP-4) (bao gồm: Sitagliptin, Saxagliptin, Linagliptin và Alogliptin).
Nhiều bệnh nhân bị đau khớp sau khi bắt đầu dùng thuốc trên từ 1 ngày đến vài năm. Sau khi ngừng thuốc, thường là dưới 1 tháng, triệu chứng này được thuyên giảm. Một số bệnh nhân bị tái đau khớp khi trở lại dùng thuốc hoặc sử dụng thuốc khác trong nhóm.
Thuốc này chứa ít hơn 1 mmol natri (23 mg) mỗi viên, có nghĩa là “không có natri”.
Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Thời kỳ có thai:
Chưa đủ dữ liệu về sử dụng sitagliptin ở phụ nữ mang thai. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy độc tính sinh sản ở liều cao. Nguy cơ ở người chưa được biết. Do thiếu dữ liệu ở người, không nên dùng sitagliptin trong thời kỳ mang thai.
Thời kỳ cho con bú:
Không biết ở người liệu sitagliptin có bài tiết qua sữa mẹ hay không. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy sự bài tiết của sitagliptin vào sữa. Không nên sử dụng sitagliptin trong thời ký cho con bú.
Khả năng sinh sản:
Dữ liệu trên động vật cho thấy không có sự ảnh hưởng khi điều trị với sitagliptin ở nam giới và nữ giới lên khả năng sinh sản. Dữ liệu trên người còn hạn chế.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc:
Thuốc không có hoặc ảnh hưởng không đáng kể đến khả năng lái xe và sử dụng máy móc. Tuy nhiên, khi lái xe hoặc sử dụng máy móc, nên lưu ý thuốc có thể gây chóng mặt và buồn ngủ.
Ngoài ra, bệnh nhân nên được cảnh báo về nguy cơ hạ đường huyết khi thuốc này được sử dụng kết hợp với một sulphonylure hoặc với insulin.
Tương tác, tương kỵ của thuốc:
Tương tác của thuốc với các thuốc khác và các loại tương tác khác:
Ảnh hưởng của các thuốc khác trên sitagliptin:
Dữ liệu lâm sàng được mô tả dưới đây cho thấy nguy cơ tương tác có ý nghĩa lâm sàng của các thuốc điều trị phối hợp là thấp.
Trong các nghiên cứu in vitro cho thấy enzym chuyển hóa chủ yếu của sitagliptin là CYP3A4, cùng với CYP2C8. Ở những bệnh nhân có chức năng thận bình thường, chuyển hóa, bao gồm thông qua CYP3A4, chỉ đóng vai trò nhỏ trong độ thanh thải của sitagliptin. Chuyển hóa có thể đóng vai trò đáng kể trong sự thải trừ của sitagliptin khi chức năng thận suy giảm nặng hoặc suy thận giai đoạn cuối. Vì lẽ đó, các chất ức chế CYP3A4 mạnh (ví dụ ketoconazol, itraconazol, ritonavir, clarithromycin) có thể làm thay đổi dược động học của sitagliptin ở bệnh nhân suy thận nặng hoặc suy thận giai đoạn cuối. Tác dụng của chất ức chế CYP3A4 mạnh trong điều trị suy thận chưa được đánh giá trong nghiên cứu lâm sàng.
Các nghiên cứu in vitro về sự vận chuyển cho thấy sitagliptin là chất nền của p-glycoprotein và chất vận chuyển anion hữu cơ 3 (OAT-3). Vận chuyển qua trung gian OAT-3 của sitagliptin bị ức chế in vitro bởi probenecid, mặc dù nguy cơ có ý nghĩa lâm sàng của tương tác này được xem xét là thấp. Dùng đồng thời các thuốc ức chế OAT-3 chưa được đánh giá in vivo.
Metformin: Dùng đồng thời nhiều liều ngày 2 lần của metformin 1000 mg với 50 mg sitagliptin không làm thay đổi có ý nghĩa về dược động học của sitagliptin ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2.
Ciclosporin: Một nghiên cứu được thực hiện để đánh giá ảnh hưởng của ciclosporin, một chất ức chế p-glycoprotein mạnh, trên dược động học của sitagliptin. Dùng đồng thời liều đơn 100 mg đường uống của sitagliptin với liều đơn 600 mg đường uống của ciclosporin làm tăng AUC và Cmax của sitagliptin xấp xỉ 29% và 68%, tương ứng. Các thay đổi này trong dược động học của sitagliptin chưa được xem là có ý nghĩa lâm sàng. Độ thanh thải của sitagliptin thay đổi không có ý nghĩa. Do đó, tương tác có ý nghĩa với các chất ức chế p-glycoprotein khác là không mong đợi.
Ảnh hưởng của sitagliptin trên các thuốc khác:
Digoxin: Sitagliptin có ảnh hưởng nhỏ đến nồng độ trong huyết tương của digoxin. Với liều 0,25 mg digoxin dùng đồng thời với 100 mg sitagliptin hằng ngày trong 10 ngày, AUC trong huyết tương của digoxin tăng trung bình 11% và Cmax trong huyết tương tăng trung bình 18%. Không khuyến cáo điều chỉnh liều digoxin. Tuy nhiên, những bệnh nhân có nguy cơ ngộ độc digoxin nên được theo dõi khi sitagliptin và digoxin dùng đồng thời.
Dữ liệu in vitro cho thấy sitagliptin không ức chế hoặc cảm ứng isoenzym CYP450. Trong các nghiên cứu lân sàng, sitagliptin không làm thay đổi có ý nghĩa dược động học của metformin, glyburid, simvastatin, rosiglitazon, warfarin, hoặc các thuốc tránh thai đường uống, có bằng chứng in vivo về xu hướng thấp gây ra tương tác với các chất nền CYP3A4, CYP2C8, CYP2C9 và các chất vận chuyển cation hữu cơ (OCT). Sitagliptin có thể là chất ức chế nhẹ p-glycoprotein in vivo.
Tương kỵ của thuốc:
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
Tác dụng không mong muốn
Các phản ứng có hại được phân nhóm theo tần suất: Rất thường gặp (ADR ≥ 1/10), thường gặp (1/100 ≤ ADR < 1/10), ít gặp (1/1.000 ≤ ADR < 1/100), hiếm gặp (1/10.000 ≤ ADR < 1/1.000), rất hiếm gặp (ADR < 1/10.000); không thể ước lượng tần suất được liệt kê “Chưa rõ tần suất”.
| Tác dụng không mong muốn | Tần suất |
| Rối loạn máu và hệ bạch huyết | |
| Giảm tiểu cầu | Hiếm gặp |
| Rối loạn hệ miễn dịch | |
| Các phản ứng quá mẫn bao gồm sốc phản vệ | Chưa rõ tần suất |
| Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng | |
| Hạ đường huyết | Thường gặp |
| Rối loạn hệ thần kinh | |
| Đau đầu | Thường gặp |
| Chóng mặt | Ít gặp |
| Rối loạn hô hấp, lồng ngực và trung thất | |
| Bệnh phổi kẽ | Chưa rõ tần suất |
| Rối loạn hệ tiêu hóa | |
| Táo bón | Ít gặp |
| Nôn mửa | Chưa rõ tần suất |
| Viêm tụy cấp | Chưa rõ tần suất |
| Viêm tụy gây tử vong và không gây tử vong và hoại tử | Chưa rõ tần suất |
| Rối loạn da và mô dưới da | |
| Ngứa | Ít gặp |
| Phù mạch | Chưa rõ tần suất |
| Ban | Chưa rõ tần suất |
| Nổi mề đay | Chưa rõ tần suất |
| Viêm mao mạch da | Chưa rõ tần suất |
| Các tình trạng da bong tróc bao gồm hội chứng Stevens-Johnson | Chưa rõ tần suất |
| Bệnh bóng nước dạng pemphigus | Chưa rõ tần suất |
| Rối loạn cơ xương và mô liên kết | |
| Đau khớp | Chưa rõ tần suất |
| Đau cơ | Chưa rõ tần suất |
| Đau lưng | Chưa rõ tần suất |
| Viêm khớp | Chưa rõ tần suất |
| Rối loạn thận và tiết niệu | |
| Suy thận | Chưa rõ tần suất |
| Suy thận cấp | Chưa rõ tần suất |
Quá liều và cách xử trí
Quá liều:
Trong các nghiên cứu lâm sàng ở các đối tượng khỏe mạnh, dùng liều đơn lên đến 800 mg sitagliptin. Đã quan sát thấy sự tăng tối thiểu QTc, không được xem là có liên quan lâm sàng. Chưa có kinh nghiệm sử dụng các liều cao hơn 800 mg ở người. Trong các nghiên cứu giai đoạn I về chế độ nhiều liều trong ngày, người ta không tìm thấy các phản ứng bất lợi trên lâm sàng liên quan đến liều khi dùng sitagliptin đến liều 600 mg/ngày trong 10 ngày và 400 mg/ngày đến 28 ngày.
Xử trí: Trong trường hợp quá liều, nên áp dụng các biện pháp hỗ trợ thường dùng, như loại bỏ chất chưa kịp hấp thu khỏi đường tiêu hóa, theo dõi trên lâm sàng (bao gồm làm điện tâm đồ), và trị liệu nâng đỡ, nếu cần. Sitagliptin có thể được thẩm tách vừa phải. Trong nghiên cứu lâm sàng, khoảng 13,5% liều dùng được loại bỏ sau 3-4 giờ thẩm phân máu. Có thể xem xét thẩm phân máu kéo dài nếu phù hợp trên lâm sàng. Vẫn chưa biết rõ thẩm phân phúc mạc có thể thẩm tách được sitagliptin hay không.
Đặc tính dược lực học:
Nhóm dược lý: Thuốc điều trị đái tháo đường, thuốc ức chế Dipeptidyl peptidase 4 (DPP-4).
Mã ATC: A10BH01
Cơ chế tác dụng:
Sitagliptin thuộc nhóm thuốc chống đái tháo đường đường uống được gọi là chất ức chế dipeptidyl peptidase 4 (DPP-4). Sự cải thiện kiểm soát đường huyết của thuốc này có thể đo lường trung gian thông qua sự tăng nồng độ của các hormon incretin hoạt động. Các hormon incretin bao gồm glugacon-like peptid-1 (GLP-1) và glucose-dependent insulinotropic polypeptid (GIP), được giải phóng ở ruột suốt ngày, và nồng độ tăng phụ thuộc vào bữa ăn. Các incretin là một phần của hệ thống nội sinh liên quan đến sự điều hòa sinh lý cân bằng nội môi glucose. Khi nồng độ glucose trong máu bình thường hoặc tăng, GLP-1 và GIP làm tăng tổng hợp insulin và giải phóng từ các tế bào beta tuyến tụy bằng con đường truyền tin nội bào liên quan đến AMP vòng. Điều trị với GLP-1 hoặc với chất ức chế DPP-4 trong mô hình đái tháo đường tuýp 2 ở động vật đã chứng minh là cải thiện khả năng đáp ứng tế bào beta với glucose và kích thích sinh tổng hợp và giải phóng insulin. Với nồng độ insulin cao hơn, sự hấp thu glucose ở mô được tăng cường. Ngoài ra, GLP-1 làm giảm bài tiết glucagon từ các tế bào alpha tuyến tụy. Đối với cả GLP-1 và GIP, việc kích thích giải phóng insulin được tăng cường khi glucose tăng cao hơn nồng độ bình thường. Hơn nữa, GLP-1 không làm giảm đáp ứng glucagon bình thường đối với hạ đường huyết. Hoạt động của GLP-1 và GIP bị hạn chế bởi enzym DPP-4, enzym này nhanh chóng thủy phân các hormon incretin thành các chất không hoạt động. Sitagliptin ngăn chặn sự thủy phân hormon incretin bằng DPP-4, do đó làm tăng nồng độ incretin hoạt động, sitagliptin làm tăng giải phóng insulin và giảm mức glucagon theo con đường phụ thuốc glucose. Ở những bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 bị tăng đường huyết, những thay đổi về nồng độ insulin và glucagon dẫn đến giảm hemoglobin A1c (HbA1c) và giảm nồng độ glucose lúc đói và sau ăn. Cơ chế phụ thuộc vào glucose của sitagliptin khác với cơ chế của các sulphonylure, làm tăng bài tiết insulin ngay cả khi nồng độ glucose thấp và có thể dẫn đến hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 và người bình thường. Sitagliptin là một chất ức chế mạnh và có chọn lọc cao của enzym DPP-4 và không ức chế các enzym liên quan chặt chẽ DPP-8 hoặc DPP-9 ở nồng độ trị liệu.
Trong một nghiên cứu kéo dài 2 ngày ở đối tượng khỏe mạnh, dùng sitagliptin đơn lẻ làm tăng nồng độ GLP-1 hoạt động, trong khi dùng metformin đơn lẻ làm tăng cả GLP-1 hoạt động và toàn phần đến mức tương tự. Dùng kết hợp sitagliptin và metformin có tác dụng tăng thêm trên nồng độ GLP-1 hoạt động. Sitagliptin, không bao gồm metformin, làm tăng nồng độ GIP.
Đặc tính dược động học:
Hấp thu:
Sau khi dùng đường uống 100 mg ở các đối tượng khỏe mạnh, sitagliptin được hấp thu nhanh chóng, với nồng độ đỉnh trong huyết tương (Tmax trung bình) thu được từ 1 đến 4 giờ sau khi uống, AUC huyết tương trung bình là 8.52 μM.h, Cmax là 950 nM. Sinh khả dụng tương đối của sitagliptin xấp xỉ 87%. Khi dùng đồng thời với bữa ăn giàu chất béo không làm ảnh hưởng đến dược động học của sitagliptin.
AUC huyết tương của sitagliptin tăng theo tỉ lệ liều. Tỉ lệ liều không được thiết lập cho Cmax và C24h (Cmax tăng nhiều hơn và C24h tăng ít hơn so với theo tỷ lệ liều).
Phân bố:
Thể tích phân bố trung bình ở trạng thái ổn định sau khi tiêm tĩnh mạch một liều sitagliptin 100 mg ở các đối tượng khỏe mạnh là 198 lít. Tỷ lệ liên kết thuận nghịch của sitagliptin với protein huyết tương thấp (38%).
Chuyển hóa:
Sitagliptin chủ yếu được thải trừ dưới dạng không đổi trong nước tiểu, chuyển hóa chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ. Khoảng 79% sitagliptin được bài tiết dưới dạng không đổi qua nước tiểu.
Sau khi uống sitagliptin đánh dấu [14C], khoảng 16% lượng thuốc đánh dấu được bài tiết dưới dạng các chất chuyển hóa của sitagliptin. Sáu chất chuyển hóa đã được phát hiện ở mức độ vết và dự kiến sẽ không đóng góp vào hoạt động ức chế DPP-4 của sitagliptin trong huyết tương. Các nghiên cứu in vitro chỉ ra rằng enzym chính chịu trách nhiệm cho sự chuyển hóa hạn chế của sitagliptin là CYP3A4, cùng với enzym CYP2C8.
Dữ liệu in vitro cho thấy sitagliptin không phải chất ức chế các isoenzym CYP3A4, 2C8, 2C9, 2D6, 1A2, 2C19 hoặc 2B6, và không phải chất gây cảm ứng CYP3A4 và CYP1A2.
Thải trừ:
Sau khi uống sitagliptin đánh dấu [14C] cho các đối tượng khỏe mạnh, khoảng 100% lượng thuốc đánh dấu được thải trừ trong phân (13%) hoặc nước tiểu (87%) trong vòng một tuần sau khi dùng thuốc. Thời gian bán thải t1/2 sau khi uống sitagliptin 100 mg khoảng 12,4 giờ. Sitagliptin chỉ tích lũy tối thiểu khi dùng nhiều liều. Độ thanh thải thận khoảng 350 mL/phút.
Sự thải trừ của sitagliptin xảy ra chủ yếu thông qua bài tiết qua thận và liên quan đến bài tiết ở ống thận. Sitagliptin là chất nền của chất vận chuyển anion hữu cơ của con người (hOAT-3), có thể liên quan đến việc bài tiết qua thận của sitagliptin. Sự liên quan lâm sàng của hOAT-3 trong vận chuyển sitagliptin chưa được thiết lập. Sitagliptin cũng là một chất nền của p-glycoprotein, cũng có thể tham gia trung gian vào việc bài tiết qua thận của sitagliptin. Tuy nhiên, ciclosporin, một chất ức chế p-glycoprotein, không làm giảm độ thanh thải của sitagliptin ở thận. Sitagliptin không phải là chất nền cho các chất vận chuyển OCT2 hoặc OAT1 hoặc PEPT1/2. In vitro, sitagliptin không ức chế vận chuyển qua trung gian OAT3 (IC50 = 160 μM) hoặc p-glycoprotein (lên đến 250 μM) ở nồng độ trị liệu trong huyết tương. Trong một nghiên cứu lâm sàng, sitagliptin có ảnh hưởng nhỏ đến nồng độ digoxin trong huyết tương cho thấy sitagliptin có thể là chất ức chế nhẹ p-glycoprotein.
Suy thận
Một nghiên cứu mở, đơn liều được thực hiện để đánh giá dược động học của việc giảm liều sitagliptin (50 mg) ở bệnh nhân suy thận mãn tính ở mức độ khác nhau so với đối tượng khỏe mạnh bình thường. Nghiên cứu bao gồm những bệnh nhân bị suy thận nhẹ, trung bình và nặng, bệnh nhân mắc ESRD cần chạy thận nhân tạo. Ngoài ra, ảnh hưởng của suy thận đối với dược động học của sitagliptin ở bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 và suy thận nhẹ, trung bình hoặc nặng (bao gồm ESRD) được đánh giá bằng phân tích dược động học dân số.
So với đối tượng kiểm soát sức khỏe bình thường, AUC huyết tương của sitagliptin tăng khoảng 1,2 lần và 1,6 lần ở bệnh nhân suy thận nhẹ (GFR ≥ 60 đến < 90 mL/phút) và bệnh nhân suy thận vừa (GFR 45 đến < 60 mL/phút), tương ứng. Bởi vì sự gia tăng nồng độ này không liên quan đến lâm sàng, việc điều chỉnh liều ở những bệnh nhân này là không cần thiết.
AUC huyết tương của sitagliptin tăng khoảng 2 lần ở bệnh nhân suy thận vừa (GFR ≥ 30 đến < 45 mL/phút) và khoảng 4 lần ở bệnh nhân suy thận nặng (GFR < 30 mL/phút), kể cả bệnh nhân mắc ESRD cần chạy thận nhân tạo. Sitagliptin đã được loại bỏ rất ít bằng thẩm tách máu (13,5% trong một lần chạy thận nhân tạo 3 đến 4 giờ, bắt đầu sau khi uống thuốc 4 giờ). Để đạt được nồng độ sitagliptin trong huyết tương tương tự như ở những bệnh nhân có chức năng thận bình thường, nên dùng liều thấp hơn ở những bệnh nhân có GFR < 45 mL/phút.
Suy gan
Không cần điều chỉnh liều sitagliptin đối với bệnh nhân suy gan nhẹ hoặc trung bình (điểm số Child-Pugh ≤ 9). Không có kinh nghiệm lâm sàng ở bệnh nhân suy gan nặng (điểm số Child-Pugh > 9). Tuy nhiên, vì sitagliptin chủ yếu được loại bỏ qua thận, nên suy gan nặng sẽ không ảnh hưởng đến dược động học của sitagliptin.
Người cao tuổi
Không cần điều chỉnh liều dựa trên tuổi. Tuổi không có tác động có ý nghĩa lâm sàng đối với dược động học của sitagliptin dựa trên phân tích dược động học dân số trên dữ liệu pha I và pha II. Đối tượng người cao tuổi (65 đến 80 tuổi) có nồng độ sitagliptin trong huyết tương cao hơn khoảng 19% so với đối tượng trẻ tuổi.
Trẻ em
Dược động học của sitagliptin (liều duy nhất 50 mg, 100 mg hoặc 200 mg) đã được nghiên cứu ở bệnh nhi (10 đến 17 tuổi) mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2. Trong nhóm đối tượng này, AUC khi điều chỉnh liều của sitagliptin trong huyết tương thấp hơn khoảng 18% so với bệnh nhân trưởng thành mắc bệnh đái tháo đường tuýp 2 với liều 100 mg. Đây không được coi là một sự khác biệt có ý nghĩa lâm sàng so với bệnh nhân trưởng thành dựa trên mối quan hệ PK/PD phẳng giữa liều 50 mg và 100 mg. Không có nghiên cứu với sitagliptin ở bệnh nhi với độ tuổi < 10 tuổi.
Khác
Không cần điều chỉnh liều dựa trên giới tính, chủng tộc hoặc chỉ số khối cơ thể (BMI). Những đặc điểm này không có tác dụng có ý nghĩa lâm sàng đối với dược động học của sitagliptin dựa trên phân tích tổng hợp dữ liệu dược động học pha I và phân tích dược động học dân số trên dữ liệu pha I và pha II.
Điều kiện bảo quản, hạn dùng, tiêu chuẩn chất lượng của thuốc:
Điều kiện bảo quản: Để ở nhiệt độ dưới 300C, tránh ẩm và ánh sáng.
Hạn dùng của thuốc: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
Tiêu chuẩn chất lượng: TCCS.
A1202069601


