Chỉ định: Thuốc này chứa etodolac được chỉ định:
Điều trị triệu chứng ngắn hạn của thoái hóa khớp cấp tính (thoái hóa khớp háng, thoái hóa khớp gối).
Điều trị triệu chứng ngắn hạn:
Các đợt kịch phát cấp tính của bệnh thấp khớp ngoài khớp (đau vai cấp tính, viêm gân, viêm bao hoạt dịch).
Đau thắt lưng, đau rễ thần kinh nặng.
Cách dùng, liều dùng:
Cách dùng: Thuốc dùng đường uống
Viên thuốc được nuốt toàn bộ không nhai với một ly nước, tốt nhất là uống trong các bữa ăn.
Thuốc dùng cho người lớn và trẻ em trên 15 tuổi.
Liều dùng:
Để hạn chế sự xuất hiện của các tác dụng phụ bằng cách sử dụng liều thấp nhất có thể trong thời gian điều trị ngắn nhất cần thiết để giảm các triệu chứng (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
Liều trung bình: 600 mg/ngày, uống 1 viên 300 mg vào buổi sáng và 1 viên 300 mg vào buổi chiều, tốt nhất là uống giữa bữa ăn.
Liều dùng có thể được điều chỉnh ở một số bệnh nhân tùy theo tình trạng cấp tính hoặc mạn tính của tình trạng bệnh và có thể tăng lên ví dụ 200 mg hoặc đến 600 mg/ngày.
Một số lưu ý đặc biệt về xử lý thuốc trước và sau khi sử dụng thuốc:
Không có yêu cầu đặc biệt về xử lý thuốc sau khi sử dụng.
Chống chỉ định:
Bệnh nhân mẫn cảm với etodolac hoặc với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
Tiền sử dị ứng hoặc hen suyễn cấp do dùng etodolac hoặc các thuốc tương tự như NSAID, acid acetylsalicylic.
Tiền sử xuất huyết hoặc thủng đường tiêu hóa trong quá trình điều trị bằng NSAID.
Bệnh nhân loét dạ dày – tá tràng tiến triển hoặc có tiền sử xuất huyết tái phát.
Suy gan nặng.
Suy thận nặng.
Suy tim nặng.
Phụ nữ có thai từ tháng thứ 6 trở đi (tuổi thai trên 24 tuần).
Trẻ em dưới 15 tuổi.
Không được sử dụng kết hợp với:
Thuốc chống đông đường uống.
Các NSAID khác (bao gồm các salicylat từ 3 g/ngày ở người lớn).
Heparin.
Lithi.
Methotrexat từ 20 mg/tuần, pemetrexed.
Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc:
Cảnh báo đặc biệt
Nên tránh sử dụng đồng thời etodolac với các NSAID khác, bao gồm cả thuốc ức chế chọn lọc cyclooxygenase 2 (COX-2).
Để giảm thiểu nguy cơ xuất hiện biến cố bất lợi, cần sử dụng etodolac ở liều hàng ngày thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể.
Bệnh nhân bị hen kết hợp với viêm mũi mạn tính, viêm xoang mạn tính và/hoặc polyp mũi, có nguy cơ biểu hiện dị ứng khi dùng acid acetylsalicylic và/hoặc thuốc chống viêm không steroid cao hơn những người không mắc các bệnh này. Dùng etodolac có thể gây ra cơn hen suyễn, đặc biệt là ở một số người bị dị ứng với acid acetylsalicylic hoặc với một trong các thuốc NSAID (xem phần Chống chỉ định).
Người cao tuổi
Bệnh nhân cao tuổi có nguy cơ gia tăng các tác dụng phụ đối với NSAID, đặc biệt là chảy máu và thủng đường tiêu hóa có thể gây tử vong.
Tác dụng trên đường tiêu hóa
Xuất huyết, loét hoặc thủng đường tiêu hóa, đôi khi gây tử vong, đã được báo cáo với tất cả các NSAID bất cứ lúc nào trong quá trình điều trị, không nhất thiết có các dấu hiệu cảnh báo hoặc trước đó người bệnh đã từng có tác dụng phụ nặng về tiêu hóa.
Nguy cơ xuất huyết, loét hoặc thủng đường tiêu hóa tăng theo liều dùng ở bệnh nhân có tiền sử bệnh loét, đặc biệt trong trường hợp biến chứng như xuất huyết hoặc thủng (xem phần Chống chỉ định) và ở người cao tuổi. Ở những bệnh nhân này, điều trị nên được bắt đầu ở liều thấp nhất có thể. Nên xem xét liệu pháp bảo vệ niêm mạc (ví dụ như misoprostol hoặc chất ức chế bơm proton) cho những bệnh nhân này, như đối với những bệnh nhân cần điều trị bằng acid acetylsalicylic liều thấp hoặc các loại thuốc khác có thể tăng nguy cơ đường tiêu hóa (xem bên dưới và phần Tương tác của thuốc).
Bệnh nhân có tiền sử bệnh đường tiêu hóa, nhất là bệnh nhân cao tuổi, nên báo cáo bất kỳ triệu chứng bất thường ở bụng (đặc biệt là chảy máu đường tiêu hóa), đặc biệt là vào lúc bắt đầu điều trị.
Cần chú ý đặc biệt đến những bệnh nhân được điều trị phối hợp có thể làm tăng nguy cơ loét hoặc chảy máu, chẳng hạn như dùng corticosteroid đường uống, thuốc chống đông đường uống như warfarin, thuốc ức chế tái hấp thu chọn lọc serotonin (SSRI) và các thuốc kháng tiểu cầu như acid acetylsalicylic (xem phần Tương tác của thuốc).
Nếu chảy máu hoặc loét xảy ra ở bệnh nhân dùng etodolac, nên ngừng điều trị với thuốc này.
NSAID nên được dùng thận trọng và theo dõi chặt chẽ ở những bệnh nhân có tiền sử bệnh đường tiêu hóa (viêm trực – kết tràng xuất huyết, bệnh Crohn), do nguy cơ bệnh nặng thêm (xem phần Tác dụng không mong muốn).
Tác dụng trên tim mạch và mạch máu não
Cần theo dõi và khuyến cáo đầy đủ ở những bệnh nhân có tiền sử tăng huyết áp và/hoặc suy tim từ nhẹ đến trung bình, với các báo cáo về những trường hợp giữ muối – nước và phù có liên quan với điều trị bằng NSAID.
Nguy cơ huyết khối tim mạch
Các thuốc chống viêm không steroid (NSAIDs), không phải aspirin, dùng đường toàn thân, có thể làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố huyết khối tim mạch, bao gồm cả nhồi máu cơ tim và đột quỵ, có thể dẫn đến tử vong. Nguy cơ này có thể xuất hiện sớm trong vài tuần đầu dùng thuốc và có thể tăng lên theo thời gian dùng thuốc. Nguy cơ huyết khối tim mạch được ghi nhận chủ yếu ở liều cao.
Bác sỹ cần đánh giá định kỳ sự xuất hiện của các biến cố tim mạch, ngay cả khi bệnh nhân không có các triệu chứng tim mạch trước đó. Bệnh nhân cần được cảnh báo về các triệu chứng của biến cố tim mạch nghiêm trọng và cần thăm khám bác sỹ ngay khi xuất hiện các triệu chứng này.
Để giảm thiểu nguy cơ xuất hiện biến cố bất lợi, cần sử dụng etodolac ở liều hàng ngày thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể.
Các nghiên cứu lâm sàng và dữ liệu dịch tễ học cho thấy việc sử dụng một số NSAID (đặc biệt khi được sử dụng ở liều cao và trong một thời gian dài) có thể liên quan với tăng nhẹ nguy cơ huyết khối động mạch (ví dụ như nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ). Hiện tại không có đủ dữ liệu để loại trừ nguy cơ này đối với etodolac.
Bệnh nhân tăng huyết áp không kiểm soát được, suy tim sung huyết, bệnh tim thiếu máu cục bộ, bệnh động mạch ngoại vi và/hoặc tiền sử đột quỵ (bao gồm cả cơn thiếu máu thoáng qua) chỉ được điều trị bằng etodolac sau khi đánh giá cẩn thận tỷ lệ lợi ích/rủi ro.
Cần chú ý tương tự trước khi bắt đầu điều trị lâu dài ở những bệnh nhân có yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch (chẳng hạn như tăng huyết áp, tăng lipid máu, tiểu đường hoặc hút thuốc).
Tác dụng trên da
Phản ứng da nghiêm trọng, một số trường hợp có thể gây tử vong, bao gồm viêm da tróc vảy, hội chứng Stevens-Johnson, và hội chứng Lyell đã được báo cáo rất hiếm gặp khi điều trị bằng NSAID (xem phần Tác dụng không mong muốn).
Tỷ lệ của các tác dụng phụ này dường như quan trọng hơn vào lúc bắt đầu điều trị, sự chậm xuất hiện, trong phần lớn các trường hợp, trong tháng điều trị đầu tiên. Nên ngưng dùng thuốc khi xuất hiện phát ban, tổn thương niêm mạc, hoặc các dấu hiệu quá mẫn khác.
Suy chức năng thận
NSAID, bằng cách ức chế hoạt động giãn mạch của prostaglandin thận, có khả năng gây suy chức năng thận bằng cách giảm lọc cầu thận. Tác dụng phụ này phụ thuộc liều.
Vào lúc bắt đầu điều trị hoặc sau khi tăng liều, theo dõi lợi tiểu và chức năng thận được khuyến cáo ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ sau đây:
Người cao tuổi.
Dùng phối hợp các thuốc như: Các chất ức chế men chuyển (IEC), các thuốc nhóm sartan, thuốc lợi tiểu (xem phần Tương tác của thuốc).
Giảm thể tích máu, bất kể nguyên nhân nào.
Suy tim.
Suy thận mạn tính.
Hội chứng thận hư.
Bệnh thận Lupus.
Xơ gan mất bù.
Giữ muối – nước
Giữ muối – nước với khả năng phù, tăng huyết áp, làm suy tim nặng thêm. Cần theo dõi lâm sàng từ khi bắt đầu điều trị trong trường hợp tăng huyết áp hoặc suy tim. Có thể giảm hiệu quả của thuốc hạ huyết áp (xem phần Tương tác của thuốc).
Tăng kali máu
Tăng kali máu do bệnh đái tháo đường hoặc điều trị đồng thời với thuốc tăng kali máu (xem phần Tương tác của thuốc).
Nên theo dõi thường xuyên kali huyết thanh trong những trường hợp này.
Thận trọng khi sử dụng
Etodolac giống như bất kỳ loại thuốc nào ức chế sự tổng hợp cyclooxygenase và prostaglandin, có thể làm thay đổi khả năng sinh sản. Việc sử dụng nó không được khuyến cáo cho những phụ nữ đang muốn có thai.
Thuốc này chứa lactose: Bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp galactose, thiếu enzym Lapp lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.
Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Thời kỳ có thai:
Sự ức chế tổng hợp prostaglandin do các NSAID có thể ảnh hưởng đến thời kỳ có thai và/hoặc sự phát triển của thai nhi.
Nguy cơ liên quan đến việc sử dụng thuốc trong 3 tháng đầu thai kỳ:
Dữ liệu từ các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy tăng nguy cơ sẩy thai, dị tật tim và hệ tiêu hóa sau khi điều trị với chất ức chế tổng hợp prostaglandin ở giai đoạn đầu thai kỳ. Nguy cơ tuyệt đối của dị tật tim mạch tăng từ dưới 1% trong dân số chung lên khoảng 1,5% ở người tiếp xúc với NSAID. Nguy cơ tăng lên tùy thuộc vào liều lượng và thời gian điều trị. Ở động vật, sử dụng chất ức chế tổng hợp prostaglandin được chứng minh làm tăng tỷ lệ chết phôi thai. Ngoài ra, tỉ lệ mắc dị tật bẩm sinh cao hơn, bao gồm dị tật tim mạch.
Nguy cơ liên quan đến việc sử dụng thuốc từ tuần thứ 12 của thai kỳ đến lúc sinh:
Từ tuần thứ 12 của thai kỳ đến lúc sinh, tất cả các NSAID, do ức chế tổng hợp prostaglandin, có thể dẫn đến suy giảm chức năng thận.
Quan sát thấy trong tử cung sau khi mất kinh 12 tuần (thai nhi bắt đầu lợi tiểu): Thiểu ối (thường hồi phục sau khi kết thúc điều trị), thậm chí vô ối trong các trường hợp tiếp xúc kéo dài.
Khi sinh, suy thận (có hồi phục hoặc không) có thể dai dẳng đặc biệt trong trường hợp tiếp xúc muộn và kéo dài (có nguy cơ tăng kali máu nặng).
Nguy cơ liên quan đến việc sử dụng thuốc từ tuần thứ 24 của thai kỳ đến lúc sinh:
Sau tuần thứ 24 của thai kỳ, các NSAID có thể làm biểu hiện ở thai nhi về độc tính tim phổi (đóng sớm ống động mạch và tăng huyết áp phổi). Đóng ống động mạch có thể xảy ra từ đầu tháng thứ 6 (sau tuần thứ 24 của thai kỳ) và có thể dẫn đến suy tim phải của thai nhi hoặc thậm chí tử vong trong tử cung.
Trong giai đoạn cuối của thai kỳ, người mẹ và trẻ sơ sinh có thể biểu hiện:
Kéo dài thời gian chảy máu do tác dụng chống kết tập có thể xảy ra ngay cả sau khi dùng thuốc với liều rất thấp.
Ức chế co bóp tử cung dẫn đến kéo dài thời gian sinh.
Kết luận:
Trừ khi thật sự cần thiết, thuốc này không nên kê đơn cho phụ nữ có kế hoạch mang thai hoặc trong 5 tháng đầu của thai kỳ. Nếu thuốc này được sử dụng cho phụ nữ muốn mang thai hoặc mang thai dưới 6 tháng, phải dùng liều thấp nhất có hiệu quả trong thời gian ngắn nhất có thể. Điều trị dài hạn không được khuyến cáo.
Từ đầu tháng thứ 6 (sau tuần thứ 24 của thai kỳ): Việc sử dụng thuốc này là chống chỉ định. Nếu vô tình sử dụng trong thời gian này, phải theo dõi tim và thận, thai nhi và/hoặc trẻ sơ sinh tùy thuộc vào thời gian tiếp xúc. Thời gian theo dõi tùy thuộc vào thời gian bán thải của thuốc.
Thời kỳ cho con bú:
Các thuốc NSAID được bài tiết qua sữa mẹ, vì vậy nên thận trọng tránh dùng thuốc này ở phụ nữ đang cho con bú.
Khả năng sinh sản:
Giống như tất các các NSAID khác, việc sử dụng thuốc này có thể tạm thời ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của nữ giới do ảnh hưởng đến sự rụng trứng, không nên dùng thuốc cho phụ nữ muốn thụ thai. Ở những phụ nữ gặp khó khăn trong các xét nghiệm về khả năng sinh sản, nên ngừng điều trị với thuốc này.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc:
Etodolac có ảnh hưởng nhẹ hoặc trung bình lên khả năng lái xe và sử dụng máy móc. Khi lái xe hoặc sử dụng máy móc nên thận trọng vì thuốc có thể gây đau đầu, chóng mặt nhẹ và mệt mỏi.
Tương tác, tương kỵ của thuốc:
Tương tác của thuốc với các thuốc khác và các loại tương tác khác:
Nguy cơ liên quan đến tăng kali máu
Một số loại thuốc hoặc nhóm các loại thuốc có khả năng làm tăng nguy cơ tăng kali máu như: Muối kali, thuốc lợi tiểu giữ kali, chất ức chế men chuyển, chất đối kháng angiotensin II, thuốc kháng viêm không steroid, heparin (trọng lượng phân tử thấp hoặc không phân đoạn), chất ức chế miễn dịch như cyclosporin hay tacrolimus, trimethoprim. Sự phối hợp của các loại thuốc này làm tăng nguy cơ tăng kali máu. Nguy cơ này đặc biệt quan trọng với thuốc lợi tiểu giữ kali, đặc biệt khi chúng được kết hợp với nhau hoặc với muối kali, trong khi sự kết hợp của một chất ức chế ACE và NSAID, chẳng hạn, ít nguy cơ hơn từ thời điểm các biện pháp phòng ngừa được đề xuất thực hiện.
Để biết những nguy cơ và mức độ ảnh hưởng cụ thể đối với thuốc tăng kali máu, cần tham khảo tương tác riêng của mỗi chất.
Tuy nhiên, một số chất chẳng hạn như trimethoprim, không phải là chất gây các tương tác cụ thể liên quan đến nguy cơ này. Chúng có thể hoạt động như một yếu tố thúc đẩy khi kết hợp với các loại thuốc khác như được đề cập ở trên.
Dùng đồng thời etodolac với các sản phẩm sau đòi hỏi phải theo dõi cẩn thận tình trạng lâm sàng và xét nghiệm của bệnh nhân.
Những thuốc khuyên không dùng phối hợp:
Thuốc chống đông đường uống
Tăng nguy cơ chảy máu của thuốc chống đông đường uống (kích ứng niêm mạc dạ dày tá tràng bởi NSAID). NSAID có thể làm tăng tác dụng của thuốc chống đông máu, chẳng hạn như warfarin (xem phần Cảnh báo đặc biệt).
Nếu không thể tránh được sự phối hợp này, hãy theo dõi lâm sàng và sinh học chặt chẽ.
Các NSAID khác
Tăng nguy cơ loét và xuất huyết tiêu hoá.
Acid acetylsalicylic (aspirin) ở liều kháng viêm (≥ 1 g/lần và/hoặc ≥ 3 g/ngày) và liều giảm đau hoặc hạ sốt (≥ 500 mg/lần và/hoặc < 3 g/ngày) tăng nguy cơ loét và xuất huyết tiêu hóa.
Heparin không phân đoạn, heparin trọng lượng phân tử thấp và những chất tương tự (ở liều điều trị và/hoặc ở người cao tuổi)
Tăng nguy cơ xuất huyết (ức chế chức năng tiểu cầu và kích ứng niêm mạc dạ dày và tá tràng bởi NSAID).
Nếu kết hợp không thể tránh được, theo dõi lâm sàng chặt chẽ (và theo dõi sinh học đối với heparin không phân đoạn).
Lithi
Etodolac có thể làm tăng nồng độ lithi trong máu do làm giảm thải trừ lithi ra khỏi cơ thể bởi thận. Nồng độ lithi tăng có thể gây ngộ độc lithi.
Nếu kết hợp không thể tránh được, theo dõi chặt chẽ nồng độ lithi trong máu và điều chỉnh liều lượng lithi trong thời gian dùng kết hợp và sau khi ngừng thuốc chống viêm không steroid.
Methotrexat dùng liều lớn hơn hoặc bằng 20 mg/tuần
Tăng độc tính huyết học của methotrexat (giảm độ thanh thải thận của methotrexat bằng thuốc kháng viêm).
Pemetrexed (bệnh nhân có chức năng thận nhẹ đến trung bình, độ thanh thải creatinin giữa 45 ml/phút và 80 ml/phút)
Nguy cơ tăng độc tính của pemetrexed (giảm độ thanh thải thận bởi NSAID).
Những thuốc thận trọng khi dùng phối hợp:
Ciclosporin, tacrolimus
Nguy cơ tăng thêm các tác dụng gây độc cho thận, đặc biệt là ở người cao tuổi.
Theo dõi chức năng thận lúc bắt đầu điều trị bằng NSAID.
Thuốc lợi tiểu, thuốc ức chế men chuyển, thuốc đối kháng thụ thể angiotensin II
Suy thận cấp tính ở bệnh nhân có nguy cơ (người cao tuổi và/hoặc mất nước) bằng cách giảm lọc cầu thận (ức chế các thuốc giãn mạch prostaglandin bởi NSAID).
Hơn nữa, giảm tác dụng hạ huyết áp.
Giữ nước cho bệnh nhân; theo dõi chức năng thận lúc bắt đầu điều trị.
Methotrexat sử dụng ở liều thấp hơn hoặc bằng 20 mg/tuần
Tăng độc tính huyết học của methotrexat (giảm độ thanh thải thận của methotrexat bởi các thuốc kháng viêm).
Kiểm soát huyết đồ hàng tuần trong những tuần lễ đầu tiên phối hợp thuốc.
Tăng cường giám sát trong trường hợp suy thận (dù nhẹ), cũng như ở người cao tuổi.
Pemetrexed (bệnh nhân có chức năng thận bình thường)
Nguy cơ tăng độc tính của pemetrexed (giảm độ thanh thải thận bởi NSAID).
Giám sát sinh học chức năng thận.
Những thuốc nên cân nhắc khi dùng phối hợp:
Acid acetylsalicylic ở liều chống kết tập (50 mg đến 375 mg mỗi ngày dùng 1 hoặc nhiều lần)
Tăng nguy cơ loét và xuất huyết tiêu hoá.
Glucocorticosteroid (ngoại trừ hydrocortison làm liệu pháp thay thế)
Tăng nguy cơ loét và xuất huyết tiêu hóa (xem phần Cảnh báo đặc biệt).
Chất chống kết tập tiểu cầu và chất ức chế tái hấp thu serotonin (SSRI) ( in nghiêng)
Tăng nguy cơ xuất huyết tiêu hóa (xem phần Cảnh báo đặc biệt).
Heparin không phân đoạn, heparin trọng lượng phân tử thấp (Liều dự phòng)
Tăng nguy cơ xuất huyết.
Thuốc chẹn bêta (trừ esmolol)
Giảm tác dụng hạ huyết áp (ức chế các thuốc giãn mạch prostaglandin bởi NSAID và giữ nước với NSAID nhóm pyrazol.
Deferasirox
Tăng nguy cơ loét và xuất huyết tiêu hóa.
Tương kỵ của thuốc:
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
Tác dụng không mong muốn:
Các phản ứng có hại được phân nhóm theo tần suất: Rất thường gặp (ADR ≥ 1/10), thường gặp (1/100 ≤ ADR < 1/10), ít gặp (1/1.000 ≤ ADR < 1/100), hiếm gặp (1/10.000 ≤ ADR < 1/1.000), rất hiếm gặp (ADR < 1/10.000); không thể ước lượng tần suất được liệt kê “Chưa rõ tần suất”.
Tác dụng trên đường tiêu hóa
Các tác dụng phụ thường gặp nhất là ở đường tiêu hóa. Loét dạ dày, thủng hoặc chảy máu đường tiêu hóa, đôi khi gây tử vong, có thể xảy ra, đặc biệt là ở người cao tuổi (xem phần Cảnh báo đặc biệt).
Buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy, đầy hơi, táo bón, khó tiêu, viêm loét miệng, đau bụng, tiêu phân đen, nôn ra máu, đợt cấp của viêm đại tràng và bệnh Crohn (xem phần Cảnh báo đặc biệt) đã được báo cáo sau khi dùng NSAID.
Ít gặp hơn, đã quan sát thấy viêm dạ dày.
Tác dụng trên tim mạch
Phù nề, tăng huyết áp và suy tim đã được báo cáo khi kết hợp điều trị với NSAID.
Nguy cơ huyết khối tim mạch (xem thêm phần Cảnh báo và thận trọng).
Hiếm khi được báo cáo: Tăng huyết áp, nhịp tim nhanh, đau ngực, rối loạn nhịp tim, đánh trống ngực, hạ huyết áp, suy tim sung huyết.
Phản ứng quá mẫn
Hô hấp: Khả năng xuất hiện cơn hen suyễn, đặc biệt là ở những người bị dị ứng với aspirin và các loại thuốc chống viêm không steroid khác.
Phản ứng da
Rất hiếm khi xảy ra phản ứng bọng nước (bao gồm hội chứng Stevens-Johnson và hội chứng Lyell).
Cũng đã được báo cáo: Phát ban, mày đay và trầm trọng thêm mày đay mạn tính, ngứa, ban xuất huyết.
Đặc biệt, các trường hợp nhạy cảm với ánh sáng đã được báo cáo.
Thay đổi sinh học
Gan: Tăng transaminase huyết thanh thoáng qua.
Ảnh hưởng trên hệ thần kinh trung ương
Nhức đầu, cảm giác chóng mặt và mệt mỏi đã được báo cáo.
Ảnh hưởng trên thận
Giữ muối- nước, tăng kali máu (xem phần Cảnh báo đặc biệt và Tương tác của thuốc).
Suy thận cấp tính ở bệnh nhân có yếu tố nguy cơ (xem phần Cảnh báo đặc biệt).
Các bệnh về thận có thể dẫn đến suy thận cấp tính: Viêm thận kẽ, hoại tử ống thận cấp, hội chứng thận hư, hoại tử nhú thận đã được báo cáo.
Hướng dẫn xử trí ADR:
Ngừng dùng thuốc nếu bệnh nhân xuất hiện dấu hiệu phản ứng phụ nghiêm trọng: Phân đen; đau dạ dày bất thường, dai dẳng; đau cánh tay, hàm, ngực; nôn ra máu; thở gấp; đổ mồ hôi bất thường; yếu; thay đổi thị lực bất thường.
Quá liều và cách xử trí:
Triệu chứng: Chưa có báo cáo về quá liều etodolac. Triệu chứng quá liều cấp có thể xảy ra như triệu chứng quá liều do thuốc kháng viêm không steroid với các biểu hiện: Ngủ lịm, buồn ngủ, buồn nôn, nôn, và đau vùng thượng vị. Xuất huyết dạ dày-ruột có thể xảy ra. Cao huyết áp, suy thận cấp, suy hô hấp và hôn mê có thể xảy ra, nhưng hiếm gặp.
Xử trí: Thường là điều trị triệu chứng và hỗ trợ. Nếu đã uống quá liều thì cần áp dụng những biện pháp sau đây nhằm tăng đào thải và bất hoạt thuốc: Rửa dạ dày, gây nôn và lợi tiểu, cho uống than hoạt hay thuốc tẩy muối. Khó loại bỏ bằng thẩm tách vì có đến 99% gắn kết với protein huyết tương.
Đặc tính dược lực học:
Nhóm dược lý: Etodolac là một thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) có tác dụng kháng viêm, giảm đau và hạ sốt trên mô hình động vật. Cơ chế hoạt động của etodolac, giống như các NSAID khác, chưa được tìm hiểu đầy đủ nhưng có thể liên quan đến sự ức chế tổng hợp prostaglandin.
Etodolac là hỗn hợp racemic của [-]R- và [+]S-etodolac. Giống như các NSAID khác, người ta đã chứng minh được ở động vật dạng [+]S có hoạt tính sinh học. Cả hai chất đồng phân quang học đều ổn định và không có sự chuyển đổi [-]R thành [+]S trong cơ thể.
Mã ATC: M01AB08
Đặc tính dược động học:
Hấp thu:
Sinh khả dụng toàn phần của etodolac là 100% so với dung dịch và ít nhất là 80% được xác định từ các nghiên cứu cân bằng khối lượng. Etodolac được hấp thu tốt và có sinh khả dụng tương đối là 100% khi so sánh viên nang 200 mg với dung dịch etodolac. Dựa trên các nghiên cứu về cân bằng khối lượng, sinh khả dụng toàn phần của etodolac ở dạng viên nén hoặc viên nang ít nhất là 80%. Etodolac không trải qua quá trình chuyển hóa bước đầu sau khi uống. Nồng độ đỉnh trong huyết tương (Cmax) trung bình (± 1 SD) nằm trong khoảng từ 14 ± 4 đến 37 ± 9 mcg/mL sau khi dùng liều đơn 200 đến 600 mg và đạt được sau 80 ± 30 phút. Tỷ lệ liều dựa trên diện tích dưới đường cong của nồng độ trong huyết tương theo thời gian (AUC) là tuyến tính sau khi dùng liều 600 mg mỗi 12 giờ. Nồng độ đỉnh tỷ lệ thuận với liều của cả etodolac toàn phần và tự do sau khi dùng liều 400 mg mỗi 12 giờ, nhưng khi sử dụng liều 600 mg, đỉnh cao hơn khoảng 20% so với dự đoán dựa trên liều dùng thấp hơn. Mức độ hấp thu của etodolac không bị ảnh hưởng khi dùng etodolac sau bữa ăn. Tuy nhiên, lượng thức ăn ăn vào làm giảm nồng độ đỉnh khoảng một nửa và tăng thời gian đạt nồng độ đỉnh từ 1,4 đến 3,8 giờ.
Phân bố:
Thể tích phân bố biểu kiến trung bình (Vd/F) của etodolac là khoảng 390 mL/kg. Etodolac liên kết hơn 99% với protein huyết tương, chủ yếu là albumin. Phần tự do nhỏ hơn 1% và không phụ thuộc vào tổng nồng độ etodolac trong khoảng liều nghiên cứu. Chưa biết etodolac có được bài tiết qua sữa mẹ hay không; tuy nhiên, dựa trên các đặc tính hóa lý, thuốc có thể được bài tiết vào sữa mẹ. Dữ liệu từ các nghiên cứu in vitro, nồng độ đỉnh trong huyết thanh ở liều điều trị được báo cáo ở người, cho thấy phần tự do của etodolac không bị thay đổi đáng kể bởi acetaminophen, ibuprofen, indomethacin, naproxen, piroxicam, clorpropamid, glipizid, glyburid, phenytoin và probenecid.
Chuyển hóa:
Etodolac được chuyển hóa rộng rãi ở gan. Vai trò của hệ thống cytochrom P450 cụ thể trong quá trình chuyển hóa etodolac vẫn chưa được biết rõ. Một số chất chuyển hóa etodolac đã được xác định trong huyết tương và nước tiểu người. Các chất chuyển hóa khác vẫn chưa được xác định. Các chất chuyển hóa bao gồm 6-, 7- và 8-hydroxyl hóa-etodolac và etodolac glucuronid. Sau một liều duy nhất 14C-etodolac, chất chuyển hóa hydroxyl hóa chiếm dưới 10% tổng lượng thuốc trong huyết thanh. Khi dùng kéo dài, chất chuyển hóa hydroxyl hóa-etodolac không tích lũy trong huyết tương ở bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Mức độ tích lũy các chất chuyển hóa hydroxyl hóa-etodolac ở bệnh nhân rối loạn chức năng thận chưa được nghiên cứu. Các chất chuyển hóa hydroxyl hóa-etodolac trải qua quá trình glucuronid hóa tiếp theo, sau đó bài tiết qua thận và đào thải một phần qua phân.
Thải trừ:
Độ thanh thải trung bình qua đường uống của etodolac sau khi dùng đường uống là 49 (±16) mL/giờ/kg. Khoảng 1% liều etodolac được bài tiết dưới dạng không đổi qua nước tiểu và 72% liều dùng được bài tiết vào nước tiểu dưới dạng thuốc gốc và chất chuyển hóa:
| – etodolac, dưới dạng không đổi | 1% |
| – etodolac glucuronid | 13% |
| – chất chuyển hóa hydroxyl hóa (6-, 7- và 8-OH) | 5% |
| – chất chuyển hóa hydroxyl hóa glucuronid | 20% |
| – chất chuyển hóa không xác định | 33% |
Mặc dù thải trừ qua thận là con đường bài tiết quan trọng đối với các chất chuyển hóa etodolac, nhưng nhìn chung không cần điều chỉnh liều ở bệnh nhân rối loạn chức năng thận nhẹ đến trung bình. Thời gian bán hủy (t1/2) của etodolac là 6,4 giờ (22% CV). Ở những bệnh nhân bị rối loạn chức năng thận nặng hoặc đang chạy thận nhân tạo, việc điều chỉnh liều thường không cần thiết.
Sự bài tiết qua phân chiếm 16% liều dùng.
Quần thể đặc biệt
Người cao tuổi
Trong các nghiên cứu lâm sàng etodolac, chưa thấy sự khác biệt tổng thể về độ an toàn hoặc hiệu quả giữa những bệnh nhân cao tuổi và những bệnh nhân trẻ tuổi hơn. Trong các nghiên cứu dược động học, tuổi tác đã được chứng minh là không có bất kỳ ảnh hưởng nào đến thời gian bán hủy của etodolac hoặc sự gắn kết với protein và không có thay đổi về sự tích lũy thuốc dự kiến. Do đó, không cần điều chỉnh liều ở người cao tuổi dựa trên dược động học.
Etodolac được đào thải chủ yếu qua thận. Vì bệnh nhân cao tuổi có nhiều khả năng bị suy giảm chức năng thận nên cần thận trọng khi lựa chọn liều lượng và nên theo dõi chức năng thận của bệnh nhận.
Trẻ em
Tính an toàn và hiệu quả ở bệnh nhi dưới 18 tuổi chưa được thiết lập.
Chủng tộc
Sự khác biệt về dược động học của các chủng tộc chưa được xác định. Các nghiên cứu lâm sàng gồm các bệnh nhân thuộc nhiều chủng tộc, tất cả đều phản ứng tương tự nhau.
Suy gan
Etodolac được chuyển hóa chủ yếu ở gan. Ở những bệnh nhân bị xơ gan còn bù, sự phân bố của etodolac toàn phần và tự do không bị thay đổi. Bệnh nhân mắc bệnh gan cấp tính và mãn tính thường không cần giảm liều etodolac so với bệnh nhân có chức năng gan bình thường. Tuy nhiên, độ thanh thải etodolac phụ thuộc vào chức năng gan nên có thể giảm ở bệnh nhân suy gan nặng. Sự gắn kết với protein huyết tương của etodolac không thay đổi ở bệnh nhân xơ gan còn khi sử dụng etodolac.
Suy thận
Dược động học của etodolac đã được nghiên cứu ở những đối tượng suy thận. Độ thanh thải thận của etodolac không đổi khi có suy thận nhẹ đến trung bình (độ thanh thải creatinin là 37 đến 88 mL/phút). Hơn nữa, không có sự khác biệt đáng kể trong việc sử dụng etodolac toàn phần và tự do ở những bệnh nhân này. Tuy nhiên, etodolac nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân này vì cũng như các NSAID khác, nó có thể làm suy giảm chức năng thận ở một số bệnh nhân. Ở những bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo, độ thanh thải của etodolac toàn phần cao hơn 50% do tỷ lệ không liên kết cao hơn 50%. Độ thanh thải etodolac tự do không thay đổi, cho thấy tầm quan trọng của việc liên kết với protein trong quá trình phân hủy etodolac. Etodolac được loại bỏ khỏi máu không đáng kể ở những bệnh nhân đang chạy thận nhân tạo.


