Chỉ định:
Để giảm sự phát triển của vi khuẩn kháng thuốc và duy trì hiệu quả của ofloxacin và các thuốc kháng sinh khác, chỉ nên sử dụng ofloxacin để điều trị hoặc ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng đã được chứng minh hoặc nghi ngờ là do vi khuẩn nhạy cảm gây ra. Nên xem xét việc lựa chọn hoặc điều chỉnh phác đồ kháng sinh khi có thông tin về nuôi cấy và độ nhạy cảm. Nếu không có các dữ liệu này, dịch tễ học địa phương và các mô hình về độ nhạy cảm có thể góp phần vào việc lựa chọn liệu pháp điều trị theo kinh nghiệm.
Ofloxacin được chỉ định để điều trị cho người lớn bị nhiễm trùng nhẹ đến trung bình (trừ khi có chỉ định khác) gây ra bởi các các chủng vi sinh vật nhạy cảm trong các bệnh nhiễm trùng được liệt kê dưới đây (xem Cách dùng, liều dùng để biết các khuyến nghị cụ thể):
- Các đợt nhiễm khuẩn cấp của viêm phế quản mạn tính do Haemophilusenzae hoặc Streptococcus pneumoniae.
- Viêm phổi mắc phải tại cộng đồng do Haemophilusenzae hoặc Streptococcus pneumoniae.
- Nhiễm trùng da và cấu trúc da không phức tạp do tụ cầu vàng nhạy cảm với methicillin, Streptococcus pyogenes hoặc Proteus mirabilis.
- Viêm niệu đạo và viêm cổ tử cung cấp tính không phức tạp do lậu cầu Neisseria gonorrhoeae.
- Viêm niệu đạo và viêm cổ tử cung không do lậu cầu, do Chlamydia trachomatis.
- Nhiễm khuẩn niệu đạo và cổ tử cung hỗn hợp do Chlamydia trachomatis và Neisseria gonorrhoeae.
- Bệnh viêm vùng chậu cấp tính (bao gồm nhiễm khuẩn nặng) do Chlamydia trachomatis và/hoặc Neisseria gonorrhoeae.
Lưu ý: Nếu nghi ngờ vi sinh vật kỵ khí góp phần gây nhiễm trùng, nên áp dụng liệu pháp điều trị thích hợp đối với mầm bệnh kỵ khí.
- Viêm bàng quang không phức tạp do Citrobacter diversus, Enterobacter aerogenes, Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae, Proteus mirabilis hoặc Pseudomonas aeruginosa.
- Nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp do Escherichia coli, Klebsiella pneumoniae, Proteus mirabilis, Citrobacter diversus* hoặc Pseudomonas aeruginosa*.
- Viêm tuyến tiền liệt do Escherichia coli.
Cần tuân thủ các hướng dẫn chính thức về việc sử dụng kháng sinh một cách hợp lý:
- Nhiễm khuẩn đường tiết niệu không phức tạp: Do kháng sinh fluoroquinolon, trong đó có ofloxacin liên quan đến phản ứng có hại nghiêm trọng (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc) và đợt nhiễm khuẩn cấp của viêm phế quản mạn tính ở một số bệnh nhân có thể tự khỏi, chỉ nên sử dụng ofloxacin cho những bệnh nhân không có lựa chọn điều trị khác thay thế.
- Đợt nhiễm khuẩn cấp của viêm phế quản mạn tính: Do kháng sinh fluoroquinolon, trong đó có ofloxacin liên quan đến phản ứng có hại nghiêm trọng (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc) và nhiễm khuẩn đường tiết niệu không phức tạp ở một số bệnh nhân có thể tự khỏi, chỉ nên sử dụng ofloxacin cho những bệnh nhân không có lựa chọn điều trị khác thay thế.
- Viêm xoang cấp tính do vi khuẩn: Do kháng sinh fluoroquinolon, trong đó có ofloxacin liên quan đến phản ứng có hại nghiêm trọng (xem mục Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc) và viêm xoang cấp tính do vi khuẩn ở một số bệnh nhân có thể tự khỏi, chỉ nên sử dụng ofloxacin cho những bệnh nhân không có lựa chọn điều trị khác thay thế.
* Mặc dù việc điều trị nhiễm trùng do vi sinh vật Citrobacter diversus hoặc Pseudomonas aeruginosa gây ra trong hệ thống cơ quan này đã chứng minh kết quả có ý nghĩa lâm sàng, nhưng hiệu quả chỉ được nghiên cứu ở ít hơn 10 bệnh nhân.
Cần thực hiện các xét nghiệm nuôi cấy và độ nhạy cảm thích hợp trước khi điều trị để phân lập và xác định các sinh vật gây nhiễm trùng và xác định tính nhạy cảm của chúng với ofloxacin. Có thể bắt đầu điều trị bằng ofloxacin trước khi biết kết quả của các xét nghiệm này; khi đã có kết quả, nên tiếp tục điều trị thích hợp.
Cũng như các thuốc khác trong nhóm này, một số chủng Pseudomonas aeruginosa có thể phát triển đề kháng khá nhanh trong quá trình điều trị bằng ofloxacin. Xét nghiệm nuôi cấy và độ nhạy cảm được thực hiện định kỳ trong quá trình điều trị sẽ cung cấp thông tin không chỉ về tác dụng điều trị của thuốc kháng sinh mà còn về khả năng xuất hiện tình trạng kháng thuốc của vi khuẩn.
Cách dùng, liều dùng:
Cách dùng:
Dùng đường uống.
Uống nguyên viên với lượng nước vừa đủ, trước hoặc trong bữa ăn. Nên uống cách ít nhất 2 giờ sau khi uống các thuốc kháng acid, sucrafat hoặc các chế phẩm có chứa ion kim loại (nhôm, sắt, magnesi hoặc kẽm), didanosin, vì có thể làm giảm hấp thu ofloxacin.
Liều dùng:
Liều dùng đối với người lớn trong khoảng từ 200 – 400 mg/mỗi 12 giờ tùy theo chỉ định và mức độ nhiễm khuẩn, nên lựa chọn dạng bào chế thích hợp với liều dùng (Ví dụ: Floxtac 300 thích hợp cho liều dùng 300 mg/lần uống).
Thời gian điều trị không quá 2 tháng.
Một liều hàng ngày lên tới 400 mg ofloxacin có thể dùng dưới dạng một liều duy nhất. Trong trường hợp này, nên dùng ofloxacin vào buổi sáng.
Liều hàng ngày lớn hơn 400 mg phải được chia thành hai liều riêng biệt và được uống cách nhau khoảng thời gian xấp xỉ bằng nhau.
| Chỉ định | Liều dùng | Thời gian điều trị |
| Viêm phổi và các đợt cấp của viêm phế quản mạn tính | 400 mg x 1 lần/ngày hoặc
400 mg x 2 lần/ngày nếu cần thiết |
10 ngày |
| Nhiễm trùng da và cấu trúc da không phức tạp | 400 mg x 2 lần/ngày | 10 ngày |
| Viêm niệu đạo và viêm cổ tử cung cấp tính không phức tạp do lậu cầu | Liều duy nhất 400 mg | 1 ngày |
| Viêm niệu đạo và viêm cổ tử cung không do lậu cầu, do C. trachomatis. | 300 mg x 2 lần/ngày hoặc
400 mg x 1 lần/ngày |
7 ngày |
| Nhiễm khuẩn niệu đạo và cổ tử cung hỗn hợp do C. trachomatis và N. gonorrhoeae. | 300 mg x 2 lần/ngày | 7 ngày |
| Bệnh viêm vùng chậu cấp tính | 400 mg x 2 lần/ngày | 10 – 14 ngày |
| Nhiễm khuẩn tiết niệu không phức tạp (viêm bàng quang): | ||
| Do E. coli hoặc K. pneumoniae | 200 mg x 2 lần/ngày | 3 ngày |
| Do vi khuẩn khác | 200 mg x 2 lần/ngày | 7 ngày |
| Nhiễm khuẩn đường tiết niệu phức tạp | 200 mg x 2 lần/ngày hoặc
400 mg x 2 lần/ngày nếu cần thiết |
10 ngày |
| Viêm tuyến tiền liệt | 300 mg x 2 lần/ngày | 6 tuần |
Suy thận:
Sau liều khởi đầu bình thường, giảm liều ở bệnh nhân suy thận được xác định dựa vào độ thanh thải creatinin hoặc nồng độ creatinin huyết thanh.
| Độ thanh thải creatinin | Nồng độ creatinin huyết thanh | Liều duy trì |
| 20 – 50 ml/phút | 1,5 – 5 mg/dL | 100 – 200 mg/ngày |
| < 20 ml/phút | > 5 mg/dL | 100 mg/ngày |
Cần theo dõi nồng độ ofloxacin trong huyết thanh ở bệnh nhân suy thận nặng và thẩm phân.
Bệnh nhân đang thẩm phân máu hoặc thẩm phân phúc mạc nên dùng liều 100 mg ofloxacin mỗi ngày.
Có thể tính độ thanh thải creatinin dựa vào nồng độ creatinin huyết thanh theo công thức sau:
Đối với nam:
Clcr (ml/phút) =
hoặc Clcr (ml/phút) =
Đối với nữ: Clcr (ml/phút) = 0,85 x giá trị của nam.
Suy gan:
Thải trừ của ofloxacin bị giảm ở bệnh nhân rối loạn chức năng gan nặng (Xơ gan có hoặc không có cổ trướng). Trong trường hợp này, liều dùng khuyến cáo không được quá 400 mg/ngày.
Trẻ em:
Chống chỉ định ở trẻ em và thanh thiếu niên.
Người cao tuổi:
Không cần điều chỉnh liều ở người cao tuổi, trừ khi xem xét chức năng gan và thận.
Một số lưu ý đặc biệt về xử lý thuốc trước và sau khi sử dụng thuốc:
Không có yêu cầu đặc biệt về xử lý thuốc sau khi sử dụng.
Chống chỉ định:
Quá mẫn với ofloxacin, các kháng sinh nhóm fluoroquinolon hoặc thành phần khác của thuốc.
Bệnh nhân có tiền sử động kinh hoặc rối loạn hệ thần kinh trung ương hiện có với ngưỡng động kinh thấp.
Bệnh nhân có tiền sử rối loạn gân liên quan đến fluoroquinolon.
Trẻ em hoặc thanh thiếu niên đang phát triển, phụ nữ mang thai hoặc cho con bú, vì các thí nghiệm trên động vật không loại trừ hoàn toàn nguy cơ thiệt hại cho sụn tăng trưởng trong cơ thể đang phát triển.
Bệnh nhân có hoạt động của glucose-6-phosphate dehydrogenase bị khiếm khuyết tiềm ẩn hoặc rõ ràng vì có thể dễ bị phản ứng tan máu khi điều trị bằng các chất kháng sinh quinolon.
Cảnh báo và thận trọng khi dùng thuốc:
Nên tránh sử dụng ofloxacin ở những bệnh nhân đã gặp phản ứng có hại nghiêm trọng trước đây khi sử dụng các sản phẩm có chứa quinolon hoặc fluoroquinolon. Việc điều trị bằng ofloxacin cho những bệnh nhân này chỉ nên được bắt đầu khi không có lựa chọn điều trị thay thế và sau khi đánh giá cẩn thận lợi ích/nguy cơ.
Ofloxacin không phải là thuốc được lựa chọn đầu tiên trong viêm phổi do Streptococcus pneumoniae hoặc Chlamydia pneumoniae.
- aureus đề kháng methicillin (MRSA):
Rất có khả năng đồng kháng đối với fluroquinolon bao gồm ofloxacin. Vì vậy không khuyến cáo chỉ định ofloxacin trong điều trị nhiễm MRSA đã biết hoặc nghi ngờ, trừ khi có kết quả xác nhận tính nhạy cảm của vi sinh vật đối với ofloxacin (và những kháng sinh thường được khuyến cáo để điều trị nhiễm MRSA không được xem là thích hợp).
- coli đề kháng fluoroquinolon:
Tác nhân gây bệnh phổ biến nhất liên quan đến nhiễm trùng đường tiết niệu khác nhau ở khắp Liên minh Châu Âu. Bác sỹ kê đơn nên lưu ý đến tình trạng đề kháng với fluoroquinolon của Escherichia coli ở địa phương.
Chủng Streptococcus pneumoniae, Streptococci tan huyết β và Mycoplasma:
Ofloxacin không phải là thuốc được lựa chọn đầu tiên cho viêm phổi do Pneumococci hoặc Mycoplasma hay nhiễm khuẩn do Streptococci tan huyết β.
Nhiễm Neisseria gonorhoeae:
Do tăng đề kháng ở Neisseria gonorhoeae, không nên sử dụng ofloxacin theo kinh nghiệm điều trị trong trường hợp nghi ngờ nhiễm lậu cầu, trừ khi các vi khuẩn gây bệnh đã được xác định và xác nhận nhạy cảm với ofloxacin. Nếu không đạt được cải thiện trên lâm sàng sau 3 ngày điều trị, liệu pháp này nên xem xét lại.
Quá mẫn và phản ứng dị ứng:
Đã được báo cáo về quá mẫn và phản ứng dị ứng của các fluoroquinolon sau khi uống liều đầu tiên. Phản ứng phản vệ và giả phản vệ có thể tiến triển thành sốc đe dọa tính mạng, thậm chí chỉ sau liều đầu tiên. Trong những trường hợp này nên ngừng ofloxacin và bắt đầu thực hiện biện pháp điều trị thích hợp (như điều trị sốc).
Các phản ứng phụ có hại nghiêm trọng của thuốc kéo dài, gây tàn tật và có khả năng không hồi phục:
Rất hiếm các trường hợp phản ứng phụ nghiêm trọng kéo dài (nhiều tháng hoặc nhiều năm), tàn tật và có khả năng không hồi phục ảnh hưởng đến các hệ cơ quan khác nhau của cơ thể (cơ xương, thần kinh, tâm thần và giác quan) đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng quinolon và fluoroquinolon không phân biệt tuổi tác và các yếu tố nguy cơ có từ trước. Nên ngừng dùng ofloxacin ngay khi có dấu hiệu hoặc triệu chứng đầu tiên của bất kỳ phản ứng phụ nghiêm trọng nào và bệnh nhân phải liên hệ ngay với bác sĩ để được tư vấn.
Phình và bóc tách động mạch chủ và hở van tim/mất khả năng hoạt động:
Các nghiên cứu dịch tễ học báo cáo sự gia tăng nguy cơ phình và bóc tách động mạch chủ, đặc biệt ở bệnh nhân cao tuổi, cũng như hở van động mạch chủ và van hai lá sau khi dùng fluoroquinolons. Các trường hợp phình và bóc tách động mạch chủ, đôi khi phức tạp do vỡ (bao gồm cả trường hợp tử vong) và hở/mất chức năng của bất kỳ van tim nào đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng fluoroquinolon.
Do đó, fluoroquinolon chỉ nên được sử dụng sau khi đánh giá cẩn thận lợi ích-nguy cơ và sau khi xem xét các lựa chọn điều trị khác ở những bệnh nhân có tiền sử gia đình dương tính với bệnh phình động mạch hoặc bệnh van tim bẩm sinh, hoặc ở những bệnh nhân được chẩn đoán mắc chứng phình động mạch chủ và/hoặc bóc tách động mạch chủ từ trước, hoặc bệnh van tim, hoặc có các yếu tố nguy cơ hoặc tình trạng khác dẫn đến cả phình và bóc tách động mạch chủ và hở van tim/mất chức năng van tim (ví dụ: Rối loạn mô liên kết như hội chứng Marfan hoặc hội chứng Ehlers-Danlos, hội chứng Turner, bệnh Behcet, tăng huyết áp, viêm khớp dạng thấp) hoặc bổ sung cho chứng phình động mạch và bóc tách động mạch chủ (ví dụ: Rối loạn mạch máu như viêm động mạch Takayasu hoặc viêm động mạch tế bào khổng lồ, hoặc xơ vữa động mạch đã biết, hoặc hội chứng Sjögren) hoặc bổ sung cho hở van tim/mất chức năng van tim (ví dụ viêm nội tâm mạc nhiễm trùng).
Nguy cơ phình và bóc tách động mạch chủ và vỡ cũng có thể tăng lên ở những bệnh nhân điều trị đồng thời với corticosteroid toàn thân.
Trong trường hợp đau bụng, ngực hoặc đau lưng đột ngột, bệnh nhân nên tham khảo ý kiến bác sĩ ngay lập tức tại khoa cấp cứu. Bệnh nhân được khuyên nên tìm kiếm sự chăm sóc y tế ngay lập tức trong trường hợp khó thở cấp tính, tim đập nhanh mới xuất hiện, hoặc phát triển phù bụng hoặc chi dưới.
Phản ứng bóng nước nghiêm trọng:
Một số trường hợp phản ứng bóng nước da nghiêm trọng như hội chứng Stevens-Johnson hoặc hoại tử biểu bì nhiễm độc đã được báo cáo. Bệnh nhân cần gặp bác sĩ trước khi tiếp tục điều trị nếu xảy ra phản ứng da và/hoặc niêm mạc.
Bệnh gây ra do Clostridium difficile:
Tiêu chảy, đặc biệt nếu nặng, dai dẳng và/hoặc có máu xảy ra trong hoặc sau quá trình điều trị bằng ofloxacin (bao gồm sau nhiều tuần điều trị) có thể chỉ ra tình trạng gây ra bởi Clostridium difficile, dạng nặng nhất là viêm đại tràng giả mạc (CDAD). CDAD có thể ở mức độ nghiêm trọng từ nhẹ đến đe dọa tính mạng. Do đó, quan trọng là phải xem xét chẩn đoán này ở bệnh nhân bị tiêu chảy nghiêm trọng trong hoặc sau khi điều trị bằng ofloxacin. Nếu nghi ngờ viêm đại tràng giả mạc, phải ngừng điều trị bằng ofloxacin ngay lập tức.
Điều trị kháng sinh đặc hiệu phù hợp phải được bắt đầu không chậm trễ (ví dụ: Vancomycin đường uống, teicoplanin hoặc metronidazol đường uống). Các thuốc ức chế nhu động được chống chỉ định trong những trường hợp này.
Bệnh nhân có khuynh hướng động kinh:
Quinolon có thể làm giảm giới hạn và kích hoạt cơn động kinh. Chống chỉ định ofloxacin ở bệnh nhân có tiền sử động kinh hoặc đã biết có khuynh hướng động kinh.
Bệnh nhân có khuynh hướng động kinh đã biết bao gồm những người bị tổn thương thần kinh trung ương đã có từ trước, điều trị đồng thời với fenbufen và các thuốc kháng viêm không steroid tương tự, hoặc với các thuốc làm giảm ngưỡng động kinh, như theophyllin.
Trong trường hợp động kinh co giật, cần ngừng điều trị bằng ofloxacin.
Viêm gân và đứt gân:
Viêm gân và đứt gân (đặc biệt nhưng không giới hạn ở gân gót chân Achilles), đôi khi ở cả hai bên, có thể xảy ra sớm trong vòng 48 giờ bắt đầu điều trị bằng quinolon và fluoroquinolon và đã được báo cáo xảy ra thậm chí đến vài tháng sau khi ngừng điều trị. Nguy cơ viêm gân và đứt gân tăng lên ở bệnh nhân lớn tuổi, bệnh nhân suy thận, bệnh nhân ghép tạng đặc và những người được điều trị đồng thời với corticosteroid. Vì vậy, nên tránh sử dụng đồng thời corticosteroid. Liều hàng ngày nên được điều chỉnh ở bệnh nhân cao tuổi dựa trên độ thanh thải creatinin. Do đó, việc theo dõi chặt chẽ những bệnh nhân này là cần thiết nếu họ được kê đơn ofloxacin.
Tất cả bệnh nhân nên tham khảo ý kiến bác sĩ nếu gặp các triệu chứng viêm gân. Khi có dấu hiệu đầu tiên của viêm gân (như sưng đau, viêm), nên ngừng điều trị bằng ofloxacin và xem xét điều trị thay thế. Các chi bị ảnh hưởng phải được điều trị thích hợp (ví dụ như không cử động). Không nên sử dụng corticosteroid nếu có dấu hiệu bệnh lý gân.
Bệnh nhân suy thận:
Vì ofloxacin được thải trừ qua thận, nên điều chỉnh liều ở bệnh nhân suy thận.
Bệnh nhân có tiền sử rối loạn tâm thần:
Phản ứng tâm thần đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng fluoroquinolon bao gồm ofloxacin. Trong một số trường hợp, đã tiến triển thành ý nghĩ tự tử hoặc hành vi tự gây nguy hiểm bao gồm cả nỗ lực tự tử, đôi khi chỉ sau một liều ofloxacin. Trong trường hợp bệnh nhân xuất hiện những phản ứng này, nên ngừng sử dụng ofloxacin ngay khi có dấu hiệu hoặc triệu chứng đầu tiên của những phản ứng này và bệnh nhân nên liên hệ với bác sĩ để được tư vấn.
Nên xem xét liệu pháp kháng sinh thay thế không chứa fluoroquinolon và áp dụng các biện pháp thích hợp.
Ofloxacin nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân có tiền sử rối loạn tâm thần hoặc ở những bệnh nhân mắc bệnh tâm thần.
Bệnh nhân suy chức năng gan:
Ofloxacin nên được sử dụng thận trọng ở những bệnh nhân bị suy giảm chức năng gan, vì tổn thương gan có thể xảy ra. Các trường hợp viêm gan tối cấp có khả năng dẫn đến suy gan (bao gồm cả các trường hợp tử vong) đã được báo cáo với fluoroquinolon. Bệnh nhân nên ngừng điều trị và liên hệ với bác sĩ nếu các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh gan phát triển như chán ăn, vàng da, nước tiểu sẫm màu, ngứa hoặc đau bụng.
Bệnh nhân được điều trị bằng thuốc đối kháng vitamin K:
Do khả năng làm tăng thời gian đông máu và/hoặc chảy máu của fluoroquinolon, bao gồm ofloxacin, trong kết hợp với thuốc đối kháng vitamin K (như warfarin), các xét nghiệm đông máu phải được giám sát khi điều trị đồng thời các thuốc này.
Bệnh nhược cơ:
Fluoroquinolon, bao gồm ofloxacin, có hoạt động ức chế thần kinh cơ và có thể làm trầm trọng thêm tình trạng yếu cơ ở bệnh nhân bị nhược cơ. Dữ liệu hậu mại về phản ứng bất lợi nghiêm trọng, bao gồm tử vong và cần hỗ trợ về hô hấp cho thấy có liên quan đến việc sử dụng fluoroquinolon ở bệnh nhân bị nhược cơ. Ofloxacin không được khuyến cáo ở những bệnh nhân có tiền sử đã biết về bệnh nhược cơ.
Bội nhiễm:
Cũng như các loại kháng sinh khác, việc sử dụng ofloxacin, đặc biệt là nếu kéo dài, có thể dẫn đến sự phát triển quá mức của các sinh vật không nhạy cảm, đặc biệt là Enterococci, chủng đề kháng hoặc Candida. Đánh giá lặp lại tình trạng của bệnh nhân là điều cần thiết và xét nghiệm độ nhạy cảm in vitro định kỳ có thể hữu ích. Nếu nhiễm trùng thứ phát xảy ra trong quá trình trị liệu, cần có biện pháp thích hợp.
Phòng ngừa phản ứng nhạy cảm ánh sáng:
Phản ứng nhạy cảm với ánh sáng đã được báo cáo với ofloxacin. Khuyến cáo bệnh nhân không nên tiếp xúc khi không cần thiết với ánh sáng mặt trời hoặc tia UV nhân tạo (ví dụ đèn UV, phòng tia nhân tạo) trong khi điều trị và trong khoảng 48 giờ sau khi ngừng điều trị để phòng ngừa phản ứng nhạy cảm ánh sáng.
Kéo dài khoảng QT:
Các trường hợp rất hiếm kéo dài khoảng QT đã được báo cáo ở bệnh nhân dùng fluoroquinolon.
Cần thận trọng khi sử dụng fluoroquinolon, bao gồm ofloxacin, ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ đã biết để kéo dài khoảng QT, ví dụ như:
Bệnh nhân cao tuổi và phụ nữ có thể nhạy cảm hơn với các thuốc kéo dài QT. Do đó, cần thận trọng khi sử dụng fluoroquinolon, bao gồm ofloxacin, trong các đối tượng này.
Mất cân bằng điện giải không được điều trị (ví dụ như hạ kali máu, hạ magnesi máu).
Hội chứng QT kéo dài bẩm sinh.
Sử dụng đồng thời các thuốc đã biết là kéo dài khoảng QT (ví dụ: Thuốc chống loạn nhịp nhóm IA và III, thuốc chống trầm cảm ba vòng, macrolid, thuốc chống loạn thần).
Bệnh tim (ví dụ: Suy tim, nhồi máu cơ tim, nhịp tim chậm).
Rối loạn đường huyết:
Giống với tất cả các quinolon, rối loạn đường huyết, bao gồm cả hạ đường huyết và tăng đường huyết đã được báo cáo, thường gặp ở bệnh nhân đái tháo đường được điều trị đồng thời với thuốc hạ đường huyết uống (ví dụ glibenclamid) hoặc bằng insulin. Các trường hợp hôn mê do hạ đường huyết đã được báo cáo. Ở bệnh nhân tiểu đường, nên theo dõi đường huyết cẩn thận.
Nên ngừng điều trị bằng ofloxacin ngay lập tức nếu bệnh nhân báo cáo có rối loạn đường huyết và nên xem xét liệu pháp kháng sinh thay thế không phải fluoroquinolon.
Bệnh lý thần kinh ngoại biên:
Các trường hợp bệnh đa dây thần kinh cảm giác hoặc cảm giác vận động dẫn đến dị cảm, giảm cảm giác, rối loạn cảm giác hoặc suy nhược đã được báo cáo ở những bệnh nhân dùng quinolon và fluoroquinolon. Bệnh nhân đang điều trị bằng ofloxacin nên thông báo cho bác sĩ trước khi tiếp tục điều trị nếu các triệu chứng của bệnh thần kinh như đau, rát, ngứa ran, tê hoặc suy nhược nhiều để ngăn ngừa hình thành tình trạng không thể phục hồi.
Bệnh nhân thiếu hụt glucose-6-phosphat-dehydrogenase:
Bệnh nhân bị thiếu hụt glucose-6-phosphat-dehydrogenase tiềm ẩn hoặc được chẩn đoán có thể dễ bị phản ứng tan máu nếu được điều trị bằng quinolon. Do đó, nếu phải sử dụng ofloxacin ở những bệnh nhân này, cần phải theo dõi khả năng tan huyết.
Ảnh hưởng kết quả xét nghiệm:
Ở những bệnh nhân được điều trị bằng ofloxacin, xác định nồng độ opiat hoặc porphyrin trong nước tiểu có thể cho kết quả dương tính giả. Cần xác nhận sàng lọc opiat hoặc porphyrin dương tính bằng các phương pháp cụ thể hơn.
Đã xảy ra tình trạng kháng chéo với nhiều loại quinolon khác nhau.
Rối loạn thị lực:
Nếu thị lực bị suy giảm hoặc có bất kỳ ảnh hưởng nào đến mắt, cần gặp bác sĩ chuyên khoa mắt để được tư vấn ngay lập tức
Cảnh báo khác:
Các phản ứng có hại nghiêm trọng có khả năng không hồi phục và gây tàn tật, bao gồm viêm gân, đứt gân, bệnh lý thần kinh ngoại biên và các tác dụng bất lợi trên thần kinh trung ương.
Các kháng sinh nhóm fluoroquinolon có liên quan đến các phản ứng có hại nghiêm trọng có khả năng gây tàn tật và không hồi phục trên các hệ cơ quan khác nhau của cơ thể. Các phản ứng này có thể xuất hiện đồng thời trên cùng bệnh nhân. Các phản ứng có hại thường được ghi nhận gồm viêm gân, đứt gân, đau khớp, đau cơ, bệnh lý thần kinh ngoại vi và các tác dụng bất lợi trên hệ thống thần kinh trung ương (ảo giác, lo âu, trầm cảm, mất ngủ, đau đầu nặng và lú lẫn). Các phản ứng này có thể xảy ra trong vòng vài giờ đến vài tuần sau khi sử dụng thuốc. Bệnh nhân ở bất kỳ tuổi nào hoặc không có yếu tố nguy cơ tồn tại từ trước đều có thể gặp những phản ứng có hại trên.
Ngừng sử dụng thuốc ngay khi có dấu hiệu hoặc triệu chứng đầu tiên của bất kỳ phản ứng có hại nghiêm trọng nào. Thêm vào đó, tránh sử dụng các kháng sinh nhóm fluoroquinolon cho các bệnh nhân đã từng gặp các phản ứng nghiêm trọng liên quan đến fluoroquinolon.
Cảnh báo về tá dược:
Thuốc có chứa lactose. Do đó, bệnh nhân có vấn đề di truyền hiếm gặp về không dung nạp galactose, thiếu enzym Lapp lactase hoặc kém hấp thu glucose-galactose không nên dùng thuốc này.
Sử dụng thuốc cho phụ nữ có thai và cho con bú:
Thời kỳ có thai:
Dựa trên dữ liệu trên người còn hạn chế, sử dụng fluoroquinolon ở ba tháng đầu thai kỳ không có liên quan với việc tăng nguy cơ dị tật lớn hoặc ảnh hưởng xấu thai kỳ. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy tổn thương sụn khớp ở động vật chưa trưởng thành nhưng không có tác dụng gây quái thai. Do đó không nên sử dụng ofloxacin khi mang thai.
Thời kỳ cho con bú:
Ofloxacin được bài tiết vào sữa mẹ với lượng nhỏ. Do có khả năng gây bệnh khớp và độc tính nghiêm trọng khác ở trẻ bú mẹ, nên ngừng cho con bú trong khi điều trị bằng ofloxacin.
Ảnh hưởng của thuốc lên khả năng lái xe, vận hành máy móc:
Thỉnh thoảng có báo cáo về tình trạng ngủ lơ mơ/buồn ngủ, suy giảm kỹ năng, choáng váng/chóng mặt và rối loạn thị giác, có thể làm giảm khả năng tập trung và phản ứng của bệnh nhân, do đó có thể gây nguy hiểm trong những tình huống mà những khả năng này quan trọng đặc biệt (ví dụ lái xe ô tô hoặc vận hành máy móc). Những tác dụng này có thể tăng lên bởi rượu.
Tương tác, tương kỵ của thuốc:
Tương tác:
Thuốc kháng acid, sucrafat, ion kim loại:
Dùng đồng thời với các thuốc kháng acid có chứa magnesi/nhôm, sucrafat, các chế phẩm chứa sắt, kẽm và didanosin có thể làm giảm hấp thu ofloxacin. Do đó, nên uống ofloxacin 2 giờ trước khi uống các chế phẩm này.
Theophyllin, fenbufen hoặc các thuốc tương tự kháng viêm không steroid:
Không có tương tác dược động học giữa ofloxacin và theophyllin trong nghiên cứu lâm sàng. Tuy nhiên, ngưỡng co giật ở não có thể bị hạ thấp rõ rệt khi quinolon được dùng đồng thời với theophyllin, thuốc kháng viêm không steroid hoặc các tác nhân làm giảm ngưỡng co giật khác.
Probenecid, cimetidin, furosemid và methotrexat:
Probenecid làm giảm độ thanh thải toàn phần của ofloxacin 24% và làm tăng AUC 16%. Cơ chế đề xuất là một sự cạnh tranh hoặc ức chế vận chuyển tích cực tại bài tiết ở ống thận. Cần thận trọng khi sử dụng ofloxacin cùng với các thuốc ảnh hưởng đến bài tiết ở ống thận như probenecid, cimetidin, furosemid và methotrexat.
Thuốc kéo dài khoảng QT đã biết:
Ofloxacin giống như các fluoroquinolon khác, nên dùng thận trọng ở bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc đã biết có thể kéo dài khoảng QT (như thuốc chống loạn nhịp nhóm IA và III, thuốc chống trầm cảm ba vòng, macrolid, thuốc chống loạn thần).
Thuốc đối kháng vitamin K:
Khả năng làm tăng thời gian các xét nghiệm đông máu (PT/INR) và/hoặc chảy máu đã được báo cáo ở những bệnh nhân được điều trị bằng ofloxacin kết hợp với chất đối kháng vitamin K (ví dụ: Warfarin). Do đó, các xét nghiệm đông máu nên được theo dõi ở những bệnh nhân được điều trị bằng chất đối kháng vitamin K vì có thể làm tăng tác dụng của các dẫn xuất coumarin.
Glibenclamid:
Ofloxacin có thể gây ra sự gia tăng nhẹ nồng độ glibenclamid trong huyết tương khi dùng đồng thời, do đó, bệnh nhân điều trị đồng thời với ofloxacin và glibenclamid nên được theo dõi chặt chẽ. Vì hạ đường huyết sau đó có nhiều khả năng xảy ra, nên theo dõi chặt chẽ lượng đường trong máu ở những bệnh nhân này.
Tương kỵ của thuốc:
Do không có các nghiên cứu về tính tương kỵ của thuốc, không trộn lẫn thuốc này với các thuốc khác.
Tác dụng không mong muốn:
Các phản ứng có hại được phân nhóm theo tần suất: Rất thường gặp (ADR ≥ 1/10), thường gặp (1/100 ≤ ADR < 1/10), ít gặp (1/1.000 ≤ ADR < 1/100), hiếm gặp (1/10.000 ≤ ADR < 1/1.000), rất hiếm gặp (ADR < 1/10.000); không thể ước lượng tần suất được liệt kê “Chưa rõ tần suất”.
| Hệ cơ quan | Ít gặp | Hiếm gặp | Rất hiếm gặp | Chưa rõ tần suất |
| Nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng | Sự phát triển quá mức của các vi sinh vật không nhạy cảm bao gồm: Nấm | |||
| Rối loạn máu và hệ bạch huyết | Thiếu máu, thiếu máu tan huyết, giảm bạch cầu, tăng bạch cầu ái toan, giảm tiểu cầu | Mất bạch cầu hạt, suy tủy xương, giảm huyết cầu toàn thể | ||
| Rối loạn hệ miễn dịch | Phản ứng phản vệ, phản ứng dạng phản vệ, phù mạch | Sốc phản vệ, sốc dạng phản vệ | ||
| Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng | Chán ăn, hôn mê do hạ đường huyết | Hạ đường huyết ở bệnh nhân đái tháo đường điều trị bằng thuốc hạ đường huyết, tăng đường huyết | ||
| Rối loạn tâm thần | Kích động, rối loạn giấc ngủ, mất ngủ | Rối loạn tâm thần (như ảo giác), lo âu, tình trạng lú lẫn, ác mộng, trầm cảm, mê sản | Rối loạn tâm thần và trầm cảm với hành vi tự gây nguy hiểm bao gồm ý định tự tử hoặc cố gắng tự tử, lo lắng | |
| Rối loạn hệ thần kinh | Chóng mặt, đau đầu | Buồn ngủ, dị cảm, rối loạn vị giác, rối loạn khứu giác, suy giảm trí nhớ | Bệnh thần kinh cảm giác ngoại biên, thần kinh vận động ngoại biên, co giật, hội chứng ngoại tháp hoặc rối loạn vận cơ phối hợp khác | Run rẩy, rối loạn vận động, mất vị giác, ngất
Tăng áp lực nội sọ lành tính (bệnh u não giả) |
| Rối loạn mắt | Kích ứng mắt | Rối loạn thị giác | Viêm màng bồ đào | |
| Rối loạn tai và mê đạo | Chóng mặt | Ù tai, mất thính giác | Giảm thính giác | |
| Rối loạn tim | Nhịp tim nhanh | Rối loạn nhịp thất và xoắn đỉnh, kéo dài khoảng QT | ||
| Rối loạn mạch | Hạ huyết áp | |||
| Rối loạn hô hấp, ngực và trung thất | Ho, viêm mũi họng | Khó thở, co thắt phế quản | Viêm phổi dị ứng, khó thở nặng | |
| Rối loạn tiêu hóa | Đau bụng, tiêu chảy, buồn nôn, nôn | Viêm ruột, đôi khi xuất huyết | Viêm đại tràng giả mạc | Khó tiêu, đầy hơi, táo bón, viêm tụy |
| Rối loạn gan mật | Tăng men gan (ALT, AST, LDH, gamma-GT và/hoặc kiềm phosphat), tăng bilirubin máu | Vàng da ứ mật | Viêm gan, tổn thương gan nặng bao gồm suy gan cấp tính có thể dẫn đến tử vong, chủ yếu ở những bệnh nhân có rối loạn gan tiềm ẩn | |
| Rối loạn da và mô dưới da | Ngứa, phát ban | Mề đay, đỏ bừng, tăng tiết mồ hôi, ban mụn mủ | Hồng ban đa dạng, hoại tử biểu bì nhiễm độc, phản ứng nhạy cảm ánh sáng, ban đỏ nhiễm sắc, ban xuất huyết, viêm mạch có thể dẫn đến hoại tử da | Hội chứng Stevens-Johnson, phát ban mụn mủ toàn thân cấp tính, viêm miệng, viêm da tróc vẩy |
| Rối loạn cơ xương và mô liên kết | Viêm gân | Đau khớp, đau cơ, đứt gân (như gân Achille) có thể xảy ra trong vòng 48 giờ đầu điều trị | Tiêu cơ vân và/hoặc bệnh cơ, yếu cơ, rách cơ, đứt cơ, đứt dây chằng, viêm khớp | |
| Rối loạn thận và tiết niệu | Tăng creatinin huyết thanh | Suy thận cấp | Viêm thận kẽ cấp tính | |
| Các rối loạn bẩm sinh, có tính gia đình và di truyền | Rối loạn chuyển hóa porphyrin | |||
| Rối loạn toàn thể và tại nơi dùng thuốc | Suy nhược, sốt, đau lưng, ngực và tứ chi |
Thông báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ các tác dụng không mong muốn gặp phải trong quá trình dùng thuốc.
Quá liều và cách xử trí:
Triệu chứng quá liều:
Các dấu hiệu quan trọng nhất có thể thấy sau khi quá liều cấp tính là các triệu chứng của hệ thần kinh trung ương như nhầm lẫn, chóng mặt, suy giảm ý thức và co giật, tăng khoảng QT cũng như các phản ứng đường tiêu hóa, chẳng hạn buồn nôn và ăn mòn niêm mạc.
Các ảnh hưởng trên thần kinh trung ương bao gồm tình trạng nhầm lẫn, co giật, ảo giác và run đã được quan sát thấy sau khi ofloxacin lưu hành trên thị trường.
Cách xử trí:
Trong trường hợp quá liều, các bước để loại bỏ ofloxacin chưa được hấp thu như rửa dạ dày, sử dụng các chất hấp phụ và natri sulfat được khuyến cáo nếu có thể trong vòng 30 phút đầu tiên. Khuyến cáo sử dụng thuốc kháng acid để bảo vệ niêm mạc dạ dày.
Khi quá liều, nên điều trị triệu chứng. Nên giám sát ECG vì khả năng kéo dài khoảng QT. Thuốc kháng acid có thể bảo vệ niêm mạc dạ dày Một phần nhỏ ofloxacin có thể được loại bỏ khỏi cơ thể bằng thẩm tách máu. Thẩm phân phúc mạc và CAPD không có hiệu quả để loại bỏ ofloxacin.
Không có thuốc giải độc đặc hiệu
Có thể tang thải trừ ofloxacin bằng lợi tiểu cưỡng bức.
Đặc tính dược lực học:
Nhóm dược lý: Kháng sinh nhóm quinolon, fluoroquinolon.
Mã ATC: J01MA01
Cơ chế tác dụng:
Ofloxacin ức chế quá trình sao chép ADN của vi khuẩn bằng cách ức chế các topoisomerase, đặc biệt là ADN gyrase và topoisomerase IV.
Liều điều trị của ofloxacin không có tác dụng dược lý trên hệ thần kinh tự chủ.
Ngưỡng nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) theo khuyến cáo của NCCLS như sau:
Nhạy cảm (S) ≤ 2 mg/L và đề kháng (R) ≥ 8 mg/L.
Nhạy cảm trung gian: 4 mg/L
Haemophilus influenzae và Neissaria gonorrhoea là trường hợp ngoại lệ với ngưỡng MIC là:
S ≤ 0,25 mg/L và R ≥ 1 mg/L.
Khuyến cáo chung của BSAC là: S ≤ 2 mg/L và R ≥ 4 mg/L.
Đối với DIN 58 940, các giới hạn sau áp dụng cho ofloxacin: S ≤ mg/L, I = 3 mg/L, R ≥ 4 mg/L.
Tỷ lệ kháng thuốc có thể thay đổi theo địa lý và theo thời gian đối với các loài được chọn và thông tin đề kháng địa phương là rất cần thiết, đặc biệt trong điều trị nhiễm trùng nặng. Thông tin này chỉ cung cấp một xác suất gần đúng về tính nhạy cảm của vi sinh vật với ofloxacin.
Kháng thuốc:
Cơ chế đề kháng chính của vi khuẩn với ofloxacin liên quan đến một hoặc nhiều đột biến ở enzym đích, thường tạo ra sự đề kháng với các kháng sinh khác trong nhóm. Các bơm vận chuyển ra và cơ chế chống thấm có thể tạo ra sự đề kháng biến đổi so với các kháng sinh trong nhóm.
Đặc tính dược động học:
Hấp thu:
Liều uống ofloxacin ở những tình nguyện viên nhịn ăn được hấp thu nhanh chóng và gần như hoàn toàn. Nồng độ đỉnh trong huyết tương sau một liều uống 200 mg trung bình là 2,6 µg/mL và đạt được trong vòng một giờ. Thời gian bán thải trong huyết tương là 5,7 đến 7,0 giờ và không liên quan đến liều dùng.
Hấp thu bị chậm lại khi có thức ăn nhưng tỉ lệ hấp thu không bị ảnh hưởng.
Phân bố:
Thể tích phân bố hiển nhiên là 120 lít. Nồng độ trong huyết tương không tăng mạnh với liều lặp lại (hệ số tích lũy cho liều gấp đôi mỗi ngày là 1,5). Liên kết protein huyết tương khoảng 25%.
Chuyển hóa:
Sự biến đổi sinh học của ofloxacin là dưới 5%. Hai chất chuyển hóa chính được tìm thấy trong nước tiểu là N-desmethyl-ofloxacin và ofloxacin-N-oxid.
Thải trừ:
Thải trừ chủ yếu ở thận. Từ 80 đến 90% liều được thu hồi từ nước tiểu dưới dạng chất không đổi.
Ofloxacin hiện diện trong mật ở dạng glucuronidised. Dược động học của ofloxacin sau khi tiêm tĩnh mạch rất giống với đường uống. Thời gian bán thải trong huyết tương kéo dài ở những người bị suy thận, độ thanh thải tổng thể và độ thanh thải thận giảm theo độ thanh thải creatinin. Cần giảm liều trong suy thận.


